amedia

“MỸ THUẬT ỨNG DỤNG TRÊN ĐƯỜNG TÌM VỀ BẢN SẮC VIỆT” (P1)

08-03-2015 22:37:46


CÁI NHÌN LẠC QUAN VỀ MỸ THUẬT ỨNG DỤNG HAY DESIGN VIỆT NAM QUA 20 NĂM

Trần Văn Bình

ĐH Kiến trúc TPHCM

Tóm tắt

Tham luận nêu một cái nhìn khác về hướng phát triển của Design Việt Nam với khái niệm Design = Mỹ thuật ứng dụng nhằm góp phần phát triển nền Design nước nhà, qua đó thể hiện rõ nét hơn bản sắc Việt trong mối quan hệ với bản sắc design quốc tế. Tính bất biến hay tiếp biến của bản sắc Việt là tương đối trong thời đại văn hóa đại chúng đặc biệt từ nửa sau thế kỷ XX. Sự đa dạng của ngôn ngữ hình thức hay phong cách sản phẩm/tác phẩm ứng dụng là một đặc điểm của thực tiễn văn minh, có quan hệ khăng khít trong hệ quy chiếu thiết kế - sản xuất - tiêu dùng. Vì thế nếu chỉ đánh giá thực trạng MTƯD thông qua thủ công mỹ nghệ và một chút quảng cáo là đáng buồn e là cái nhìn phiến diện, đơn tuyến. Theo quan điểm của người viết nên nhìn nhận thành tựu 20 năm qua của design Việt Nam qua nghiên cứu khái niệm, loại hình và đặc điểm của MTƯD/DESIGN, là cái nhìn lạc quan bắt đầu từ ngày 08.01.1993 khi ngành Mỹ thuật công nghiệp (như cách gọi thông dụng ở VN khi đó cho tới nay) bắt đầu được mở ngành đào tạo bậc đại học tại Trường đại học Bách Khoa TPHCM, mà người viết may mắn là một trong những người được tham gia vào quá trình thành lập và xây dựng Bộ môn MTCN đầu tiên đó tại khu vực phía Nam. Có thể khẳng định MTƯD đã có một bước tiến đáng kể để hôm nay có thể sơ kết một chặng đường 20 năm khởi đầu và hy vọng 20 năm tới Vietnamese Design và Made in Vietnam là một thương hiệu.

Từ khóa và viết tắt

Design; Mỹ thuật công nghiệp (MTCN); Mỹ thuật ứng dụng (MTƯD); Mỹ thuật trang trí (MTTT); Văn hóa đại chúng (VHĐC); Thiết kế - Sản xuất - Tiêu dùng (TK-SX-TD); Đồ họa (ĐH); Nội thất (NT); Tạo dáng sản phẩm (TDSP); Thời trang (TT); Văn hóa (VH); Văn minh (VM); Phong cách (PC); Bản sắc Việt (BSV); Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM); Việt Nam (VN). Nhà xuất bản (NXB).

MỞ ĐẦU

Kế hoạch hội thảo khoa học “MTƯD trên đường tìm về bản sắc Việt” do Hội Mỹ thuật TPHCM và Trường ĐH Văn Lang tổ chức khi trình bày Thực trạng và nhu cầu của nền MTƯD VN các nhà tổ chức nêu vấn đề “thực trạng có thể nói là đáng buồn” của các “sản phẩm về MTƯD như hàng thủ công mỹ nghệ” do đa phần sử dụng các motif trang trí “lấy từ các điển tích Trung Hoa, các nhân vật dã sử, lịch sử Trung Hoa” và bao bì sản phẩm, quảng cáo, sách báo, lịch “bị ảnh hưởng ngoại lai của các nước phương Tây, Hàn Quốc, Nhật Bản…” trong khi đó VN “không thiếu những truyền thuyết, điển tích hào hùng và đẹp đẽ” cùng các nhân vật lịch sử anh hùng và danh tướng…

Hội thảo mong muốn “cùng bàn một hướng đi mới – trước mắt là cho các sản phẩm MTƯD nói chung và thủ công mỹ nghệ Việt Nam nói riêng, từ đó sẽ tiếp tục hành trình tìm về bản sắc Việt trong nhiều lĩnh vực khác.”

Ảnh: Hội thảo "Mỹ thuật Ứng dụng trên đường tìm về bản sắc Việt” tại ĐH Văn Lang.

Người viết may mắn được dự Hội thảo khoa học “Mỹ thuật ứng dụng toàn quốc” lần 1 tổ chức tại 19 Hàng Buồm, Hà Nội năm 1986, được nghe nhiều tham luận của các văn nghệ sĩ tên tuồi hoạt động trong các lĩnh vực nghiên cứu và sáng tác mỹ thuật, mỹ thuật công nghiệp, thủ công mỹ nghệ như Lê Quốc Lộc (đã mất), Lê Thanh Đức (đã mất), Nguyễn Quân, Thẩm Đức Tụ, Trần Ngọc Canh, Lê Thanh, Ngô Bá Quang, Lê Huy Văn, Trần Hay, Phạm Đắc Hiển, Nguyễn Yêm, Hoàng Dũng…Ngày đó Trường Cao đẳng Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội mới được nâng bậc lên đại học năm 1984, xu thế lạc quan và tin tưởng vào tương lai MTƯD đã hình thành và kỳ vọng phát triển rất rõ ràng theo hướng design. Người viết sau Hội thảo đó cũng rất phấn khích viết một bài (đăng trên báo Người Hà Nội, 1986) nhan đề Mỹ thuật môi trường và đồ gỗ, nhân dịp Triển lãm MTCN cùng kỳ hội thảo. Bài viết khá dài trọn 1 trang báo, có phần ca ngợi những mẫu đồ gỗ và nội thất khởi đầu giai đoạn mở cửa ở Hà Nội năm 1986, đặc biệt  salon khung gỗ sơn mài truyền thống, nệm rời bọc lụa tơ tằm Hà Đông được các họa sĩ Lê thanh và Phạm Đắc Hiển thiết kế cho phòng khách Chính Phủ và Văn phòng Tổng Công đoàn Việt Nam, không chỉ đậm bản sắc Việt (sơn mài, lụa tơ tằm…) mà còn ở cấu trúc kết cấu (hi-tech) vì có thể xếp gọn thùng carton nhỏ gọn mang tới nơi mới lắp ráp sử dụng.  

Tại hội thảo, khái niệm MTƯD đã được bàn tới với sự phân biệt MTCN. MTCN là một loại hình trong hệ thống thuộc hàng dưới của MTƯD.

Năm 2002, tại khu du lịch Văn Thánh, TPHCM, người viết lại may mắn được dự Hội thảo MTƯD toàn quốc lần 2, được  tổ chức bởi Viện Mỹ thuật thuộc Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội) và Trường Cao đẳng MTTT Đồng Nai.

Vấn đề tên gọi và khái niệm MTƯD lại được đề cập đến trong các tham luận khoa học sau 16 năm kể từ Hội thảo MTƯD toàn quốc lần 1. Cho thấy cơ sở lý luận MTƯD có vẻ chưa bám sát thực tiễn và chưa xuất phát từ thực tiễn hoặc thiếu so sánh đối chiếu với chuẩn lý thế giới, do đó lại phải xem xét lại. Bắt đầu có ý kiến hãy sử dụng từ nguyên Design cho hoạt động MTƯD ở VN để hiểu đúng và toàn diện, đặc biệt các tham luận của các designer trẻ mới được đào tạo ở trong và ngoài nước về, trong xu thế rõ ràng về sự hội nhập và tác động của thiết kế mỹ thuật đa phương tiện trên máy tính.

Tham luận HTKH “MTƯD trên đường tìm về bản sắc Việt” này người viết thử hệ thống hóa cơ sở lý luận thuật ngữ DESIGN để qua đó có thể đánh giá đúng thực trạng DESIGN VN thường được dịch là MTƯD và thử tìm đường cho bản sắc Việt trong bối cảnh toàn cầu và văn hóa đại chúng lệ thuộc truyền thông ngày nay.

I. DESIGN

I.1. Khái niệm Design

Thuật ngữ Design (tiếng Anh) lần đầu xuất hiện trong từ điển đại học Oxford năm 1588 tiền thân từ tiếng latin Disegno do Giorgio Vasari viết trong sách “Cuộc đời của những Kiến trúc sư, Họa sĩ, Điêu khắc gia nổi tiếng Italia(Vite de' più eccellenti architetti, pittori, et scultori Italiani) năm 1550, thời Phục hưng. Giorgio Vasari cũng là người quan niệm Disegno là cha đẻ của Hội họa, Điêu khắc và Kiến trúc (Disegno – Father of the three arts: painting, sculpture, architecture).

Thời Phục hưng xếp 6 loại hình nghệ thuật gồm: 1. Văn chương, Thơ, Ca; 2. Múa; 3. Nhạc; 4. Hội họa; 5. Điêu khắc; 6. Kiến trúc. Thủ công mỹ nghệ, Mỹ thuật trang trí không có tên trong bảng xếp hạng nghệ thuật. Thế kỷ XX có thêm Nghệ thuật Điện ảnh là Nghệ thuật thứ 7. Nghệ thuật thứ 8 là Design theo cách xếp của Việt Nam ta trong cuốn Nguyên lý Design thị giác (Nguyễn Hồng Hưng, NXB ĐH Quốc gia TPHCM, 2012).

Định nghĩa Design tiếng Anh hay Disegno tiếng Latin đều nhấn mạnh ý tưởng sáng tạo hình thức cho một tác phẩm, một sản phẩm, một công trình hay một mục tiêu xác định dự kiến thực hiện và ý tưởng sáng tạo đó biểu hiện qua bản vẽ, phác thảo, thiết kế hay bản kế hoạch. (Design: - a plan or scheme devised by a person for something that is to be realized; - a first graphic draft of a work of art, or - an object of the applied arts, which is to be binding for the execution of a work).

Theo Wikipedia: Design is the creation of a plan or convention for the construction of an object or a system (as in architectural blueprintsengineering drawingsbusiness processescircuit diagramsand sewing patterns).[1] Design has different connotations in different fields (see design disciplines below). (Tạm dịch: Design là lập một kế hoạch hay bản vẽ quy ước đối với kết cấu của một vật thể hay một hệ thống (như trong thiết kế chi tiết kiến trúc, bản vẽ kỹ thuật, những quy trình kinh doanh, sơ đồ họa tiết may). Design có nhiều nghĩa khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau...)

Design là giải pháp của thiết kế và trang trí nhằm sáng tạo một hình thức hấp dẫn phù hợp công năng, mục đích sử dụng cho một sản phẩm hay một tác phẩm. Ngôn  ngữ của design là ngôn ngữ tạo hình hữu hình: bản vẽ phác thảo, bản vẽ thiết kế (hình ảnh 3D và cấu tạo kỹ thuật 2D). Giải pháp thiết kế hay ngôn ngữ thiết kế là ngôn ngữ hình dáng, vật liệu, màu sắc. Hình thức hay ngôn ngữ hình thức của sản phẩm/tác phẩm thể hiện phong cách nghệ thuật (được gọi tên) hay phong cách bản sắc văn hóa, dân tộc, vùng miền, tín ngưỡng, tôn giáo… điều đó lý giải sự đa dạng phong phú và khác biệt về hình thức của thế giới vật chất con người tạo ra.

Thuật ngữ Design thường bị xem như không rõ ràng như khi được ứng dụng khác nhau trong những ngữ cảnh hay thay đổi.

Ranh giới giữa Design và Nghệ thuật (Art) là rất mỏng manh, không rõ ràng và xếp chung cả hai thành khái niệm Nghệ thuật ứng dụng, Design ngày nay được hiểu một cách rộng rãi là Nghệ thuật ứng dụng (Applied Arts) như khởi đầu quan niệm bởi Raymond Loewy, nhà thiết kế công nghiệp vĩ đại nhất thế kỷ XX của Mỹ và được dạy trong các trường Bauhaus  (1919-1933) và Trường Tạo dáng Ulm (1955-1968) của Đức trong thế kỷ trước. [en.wikipedia.org/wiki/Design]

Cụm từ design ở Việt Nam có nghĩa là "mỹ thuật công nghiệp", "thiết kế tạo dáng công nghiệp" hay "mỹ thuật ứng dụng". Thuật ngữ này mới nhập vào Việt Nam trong thập niên 1960, bắt nguồn từ Industrielle Formgestaltung trong tiếng Đức, khi các giáo sư trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Halle (Die Hochschule für Industrielle Formgestaltung – Halle) sang trường Trung cấp Mỹ nghệ Hà Nội trao đổi học thuật và đã được dịch thành "Mỹ thuật công nghiệp" (MTCN). Từ đó MTCN trở thành thuật ngữ của ngành và trở nên thông dụng, quen thuộc. [vn.wikipedia.org/wiki/Mỹ-thuật-công-nghiệp]

I.2. Các loại hình design

Design cùng với Hội họa và Điêu khắc và Kiến trúc thuộc thể loại Nghệ thuật thị giác (Visual arts) thường được xếp loại bởi nhóm ngành:

- Design Công nghiệp (Industrial Design).

- Design Đồ họa (Graphic Design)

- Design Thời trang (Fashion Design)

- Design Nội thất (Interior Design)

- Nghệ thuật trang trí (Decorative Arts)

Ngoài ra design được mở rộng lĩnh vực theo sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt sang thế kỷ XXI, nền văn minh bước vào thời kỳ mới với nhiều tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ. Wikipedia thống kê sơ sơ tới vài chục ngành design, trong đó có nhiều lĩnh vực mới, như: Communication design; Game design; Interaction design; Multimedia design; Service design; Process design; Software design, Visual design, Web design

Design hay MTƯD từ đây nếu hiểu tương đương về nghĩa và mục tiêu hoạt động thì rõ ràng không bao chứa hoạt động thủ công mỹ nghệ. Theo cách hiểu hệ thống thì:

 

Có thể thấy Thủ công mỹ nghệ (TCMN – Crafts) cũng như Mỹ thuật (Fine Art) là một lĩnh vực có giao thoa với MTƯD nhưng là chủ thể độc lập. Bàn về MTƯD dựa trên thực trạng Thủ công mỹ nghệ e rằng chưa trúng đích mặc dù TCMN cũng có một số đặc điểm tương đồng Design.

I.3. Đặc điểm của Design

I.3.1. Quan hệ Thiết kế - Sản xuất – Tiêu dùng

Design là lĩnh vực hoạt động chuyên môn cần thực hiện trước quá trình sản xuất, chế tạo nhưng lại có tiền đề từ nhu cầu của xã hội hay một cá nhân nào đó, vì thế nó chịu sự chi phối của hệ thống quy chiếu đan xen Thiết kế - Sản xuất - Tiêu dùng. Điều này phân biệt khái niệm sản phẩm – tác phẩm như kết quả của một quá trình design nhưng cũng đồng thời cũng cho thấy mối quan hệ họ hàng giữa design và mỹ thuật/nghệ thuật. Tương tác 1-1 hay Tác giả - Tác phẩm cho thấy tính họ hàng của Nghệ thuật/Mỹ thuật tương đồng với Design trong trường hợp thiết kế trang trí nội thất cụ thể một công trình hay tạo mẫu thời trang cụ thể theo số đo cho một người. Đó là tác phẩm của nhà thiết kế đồng thời là Sản phẩm được khách hàng trả tiền. Ảnh hưởng xã hội – kinh tế nhỏ. Tương tác Tác giả - Sản phẩm lại cho thấy sự khác biệt giữa Design và Nghệ thuật/Mỹ thuật: Đó là mối quan hệ 3-n hay Khách hàng/Nhà sản xuất/Nhà thiết kế - n Sản phẩm. Cùng là Nội thất nhưng sản phẩm đồ đạc nội thất được các doanh nghiệp sản xuất số lượng lớn và bán ở cửa hàng, siêu thị nội thất hay quần áo may sẵn cùng giày dép được sản xuất hàng loạt theo kích cỡ tiêu chuẩn được bán như một hàng hóa thông dụng của ngành Thời trang, cho thấy đồ dùng vật dụng, máy móc… thực hiện vòng đời của mình bắt đầu từ nhu cầu của xã hội, được tạo ra bởi các nhà thiết kế và hiện thực hóa thành sản phẩm bởi các nhà sản xuất và đến tay người tiêu dùng qua hệ thống cung cấp thương mại. Tuy nhiên khách hàng có mua sản phẩm đó hay không sẽ ảnh hưởng tới cả hệ thống Thiết kế - Sản xuất - Tiêu dùng, điều đó cho thấy tác động xã hội – kinh tế lớn hơn hẳn đối với vấn đề design, được coi như tiền đề của một sản phẩm nếu được ra đời.

Vậy Thiết kế - Sản xuất - Tiêu dùng trong mối quan hệ với Sản phẩm/ Tác phẩm là đặc điểm phân biệt và khác biệt với Nghệ thuật/Mỹ thuật và chính chủ thể Sản phẩm/Tác phẩm này cần được nhìn trong mối quan hệ đơn tuyến: Nhà thiết kế (designer) – sản phẩm/tác phẩm = Nhà thiết kế – tác phẩm; nhà sản xuất (producer) – sản phẩm/tác phẩm = nhà sản xuất – sản phẩm/hàng hóa và người tiêu dùng (consumer) – sản phẩm/tác phẩm = người tiêu dùng – hàng hóa.

I.3.2. Designer - Nhà thiết kế

Con người – cá nhân bản chất là một nhà thiết kế. Trải qua hàng triệu năm của cách mạng lửa và giải phóng đôi tay khỏi việc leo trèo, di chuyển, người nguyên thủy đã biết lựa chọn từ thiên nhiên như một hòn đá, một cành cây có đặc điểm “cầm vừa tay, nhìn thuận mắt” để làm công cụ, dụng cụ. Sự lựa chọn ngẫu nhiên đến khi chế tác để cầm tiện hơn, chắc hơn, nhìn đẹp hơn con người đã tiến một bước dài nhưng cũng phải trải qua nhiều thiên niên kỷ, với những nguyên liệu căn bản với độ cứng của đá, của xương, của sừng đã tạo ra các nghệ nhân. Đó là các designer vô danh.

Nền văn minh ra đời từ 4000 năm tr.CN cùng sự xuất hiện của vật liệu kim loại đồng và sắt, chữ viết và bánh xe có trục quay. Kiến trúc, Hội họa, Điêu khắc trở thành nghệ thuật gắn bó mật thiết trong một gia đình. Cho tới tận thế kỷ XIX nhà thiết kế ẩn danh trong danh xưng của các họa sĩ, điêu khắc gia và kiến trúc sư, đặc biệt các nghệ nhân thủ công mỹ nghệ qua trải nghiệm thực tiễn, sáng tạo ra rất nhiều sản phẩm đồ gỗ, gốm, kim khí, nữ trang… thực sự là những designer ẩn danh.

Cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII-XIX tạo ra nhiều thay đổi to lớn, nghề design ra đời và designer trở thành danh xưng chính thống. Việc chế tạo ra sản phẩm cần thiết kế trước khi sản xuất, nhà thiết kế phải am hiểu ngôn ngữ thiết kế bằng các tín ký hiệu quy ước và các tiêu chuẩn trên các bản vẽ cấu tạo và kỹ thuật bên cạnh cách diễn họa mô tả hình thức sản phẩm. Các bản vẽ 2D và 3D là ngôn ngữ thống nhất giữa nhà thiết kế với nhà sản xuất. Thời kỳ designer hữu danh.

Thế kỷ XX sản xuất công nghiệp phát triển, nền văn minh đạt tới trình độ cao. Cạnh tranh khốc liệt trong sản xuất kinh doanh. Nhà thiết kế trở thành những người xây dựng tích cực thương hiệu cho doanh nghiệp.

Nếu thời nguyên thủy “designer”  không vẽ, không trực tiếp sáng tạo, chỉ dựa trên khả năng tìm kiếm và lựa chọn thì vào giai đoạn văn minh, designer đã phải có kỹ năng biểu đạt ý tưởng trên giấy. Và kỹ năng vẽ, diễn họa ý tưởng sản phẩm, công trình, tác phẩm trên giấy bằng bút chì, mực, màu vẽ, từ vẽ tay tới dùng dụng cụ để vẽ. Danh nghĩa designer thời này lẫn trong danh xưng Họa sĩ, Kiến trúc sư, đặc biệt vào thế kỷ XVI, thời Phục Hưng, khái niệm design đã rõ ràng, kỹ thuật phối cảnh đã hoàn thiện. Nghệ sĩ – Designer với năng lực toàn diện khởi đầu cho thời kỳ phát triển mới của design và nghệ thuật.

Nền văn minh công nghiệp sinh ra nghề design và designer. Các bản vẽ kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa trở thành ngôn ngữ quan trọng của designer trong quan hệ với nhà sản xuất và các bản vẽ hay mô hình 3D dễ thuyết phục khách hàng/người tiêu dùng. Cho tới tận cuối thế kỷ XX ngôn ngữ hình vẽ 2D và 3D trên giấy ấy vẫn chỉ là diễn họa thủ công, bằng tay và các dụng cụ hỗ trợ dựng hình (compa, êke, thước lỗ…). Nhưng cũng rất nhanh chóng trong vòng 20 năm qua máy vi tính (computer) và các phần mềm thiết kế trên máy tính tạo hình bằng ngôn ngữ của các pixel (picture element) trên màn hình và công cụ hữu hiệu dựa trên nền tảng công nghệ mới và kỹ thuật số đã thay thế phương pháp design truyền thống là bút và màu với giấy. Khái niệm digital design khởi đầu cho một thời kỳ sáng tạo mới bắt đầu.

Rất có thể tương lai không xa designer sẽ tiến tới sử dụng ngôn ngữ tạo hình khác là ánh sáng trong không gian mà các nhà làm phim khoa học giả tưởng ở Hollywood (Mỹ) đã tiên phong trong loạt phim Iron Man (Người Sắt). Studio của nhân vật Người Sắt Tony Stark cho thấy sự lợi hại của phương pháp thiết kế mới. Rõ ràng ý tưởng và kiến thức của designer sẽ ngày càng quan trọng chứ không phải phương thức diễn họa ý tưởng, trên giấy, trên màn hình hay trong không khí. Khoa học công nghệ luôn tiến tới giải quyết những vấn đề mang tính kỹ thuật technique, làm thay đổi theo hướng hoàn thiện và hiệu quả quy trình design.

I.4. Lý thuyết Design

I.4.1. Ngôn ngữ design

Ngôn ngữ Design chia làm 3 tầng bậc ý niệm: Ngôn ngữ hình thức, Giải pháp thiết kế và Ngôn ngữ tạo hình.

Ngôn ngữ tạo hình sử dụng các thành phần của ngôn ngữ mỹ thuật và thiết kế (Elements of Art and Design) bao gồm Nét (Line), Hình 2D (Shape), Dáng 3D (Form), Khối 3D (Mass or Cube), Màu (Color), Chất (Texture), Ảo giác của Không gian Phối cảnh, Thời gian và Chuyển động (Illution of Space,  Time and Motion) để diễn tả, diễn họa hình thức và cấu trúc sản phẩm/tác phẩm trên giấy hay màn hình thành Phác thảo, Bản vẽ hay Thiết kế 2D, 3D. Theo truyền thống mấy ngàn năm văn minh, ngôn ngữ tạo hình này được áp dụng cho các loại hình nghệ thuật thị giác Hội họa, Điêu khắc và Kiến trúc. Design sử dụng ngôn ngữ tạo hình theo những nguyên tắc và quy định trong Tiêu chuẩn hóa (Standard). Ví dụ khổ giấy, nét vẽ, cách ghi kích thước, bố cục hình chiếu thẳng góc, hình chiếu trục đo, luật xa gần hay hình chiếu phối cảnh, quy ước vật liệu trên mặt cắt, mô phỏng chất liệu và màu sắc bề mặt như thật… trên bản vẽ mô tả mẫu sản phẩm.

Bản vẽ mẫu sản phẩm thể hiện qua giải pháp thiết kế về kiểu dáng (form), vật liệu (material), màu sắc (color) và các chi tiết trang trí khác (texture and pattern).

Ngôn ngữ thiết kế 3D, bản vẽ tả thực hay mô hình chi tiết và ngôn ngữ thiết kế 2D, bản vẽ kỹ thuật cùng dự toán giá thành, là ngôn ngữ chung của nhà thiết kế dùng để giao tiếp với khách hàng và nhà sản xuất. Trong đó bản vẽ thiết kế kỹ thuật là bắt buộc designer phải dùng để “nói” với nhà sản xuất.

Hình thức sản phẩm được designer tạo ra qua các giải pháp thiết kế biểu đạt phong cách, hình tượng hay tính ẩn dụ nào đó. Thông qua hình thức cuối cùng chúng ta có thể nhận ra Phong cách nghệ thuật đã được gọi tên hay có thể thấy phong cách mang bản sắc văn hóa, dân tộc, vùng, miền, tín ngưỡng, tôn giáo… thậm chí của các nền văn minh và văn hóa của các thời kỳ lịch sử như một phong cách thời đại.

Ngôn ngữ hình thức định hướng cho giải pháp thiết kế và được biểu đạt trên bản vẽ, mô hình, màn hình bằng ngôn ngữ tạo hình chung của nghệ thuật thị giác.

Ngôn ngữ hình thức có được nhờ kiến thức lịch sử, địa lý, văn hóa, sự am hiểu và trải nghiệm về bản sắc văn hóa, các dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo… ngôn ngữ hay giải pháp thiết kế là kiến thức ngành design, ngôn ngữ tạo hình biểu đạt ý tưởng hình thức và giải pháp thiết kế lên giấy, lên màn hình được kỹ năng diễn họa của designer quyết định.

Vì vậy designer giỏi ngôn ngữ design là người có kiến thức và thực tiễn, kỹ năng và phẩm chất chuyên nghiệp nhằm phát hiện được những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn và có khả năng giải quyết vấn đề một cách có phương pháp, có cơ sở lý luận. Phẩm chất chuyên nghiệp của designer chính là khả năng Quan sát và Thấy (Phát hiện) (Looking) - Tìm hiểu và Biết cách (Giải quyết) (Thinking) và Làm được (Bản vẽ, Mô hình, Mẫu mã) (Doing).

I.4.2. Những thành tố của Design

Những thành tố của Design bao gồm:

- Nét (Line – 1D): Quỹ tích của một điểm trong không gian 2D hoặc 3D.

- Hình  (Shape – 2D): Hình dáng của một vật thể được diễn họa bằng nét khép kín trên mặt phẳng 2D. Hình dáng (Form – 3D): Hình dáng của một vật thể được diễn họa  bằng các mặt khép kín trong không gian 3 chiều (3D). Hình khối (Cube or Mass – 3D): Hình dáng của các vật thể được diễn họa quy ước hình học hóa. Ví dụ: Khối cầu, khối hộp, khối lập phương, khối trụ, khối chóp…

- Màu (Color): Màu sắc vật liệu tự thân hay màu sắc phủ lên vật liệu. Màu sắc có đặc tính tác động tâm sinh lý con người. Màu sắc mang tính quy ước trong ngôn ngữ tạo hình.

- Ánh sáng và Sắc độ (Light & Value): Độ đậm nhạt, sáng tối của màu sắc, hình khối mang lại những cảm nhận khác nhau.

- Chất liệu (Texture): Đặc điểm bề mặt vật liệu trên vật thể cho cảm giác.

- Ảo giác về Không gian (Space), Thời gian (Time) và Chuyển động (Motion): Không gian 3 chiều (3D) được thể hiện trong không gian 2 chiều (2D) – mặt phẳng bằng phối cảnh (luật xa gần) hay bằng quy ước của phép chiếu trục đo. Thời gian mặc định bởi phong cách thời đại hay thời kỳ biểu hiện qua hình thức tác phẩm/sản phẩm và ảo giác vận động/chuyển động qua kênh thị giác làm ta tự liên tưởng mà thôi, bản chất tác phẩm/sản phẩm là đã định hình kiểu dáng sau quá trình chế tác hoàn thiện.

I.4.3. Những nguyên lý design

Những nguyên lý design hay nguyên lý tạo hình được cảm nhận qua kênh thị giác như:

  • Đồng nhất và hài hòa (Unity and Harmony)
  • Cân bằng (Balance)
  • Nhịp điệu (Rhythm)
  • Tương phản (Contrast)
  • Tỉ lệ (Scale) và Cân đối (Proportion), …

Những nguyên lý thiết kế này được vận dụng trong các loại hình nghệ thuật thị giác, từ hội họa, điêu khắc, kiến trúc tới các chuyên ngành của design. Design Đồ họa, Nội thất, Tạo dáng và cả Thời trang đều ứng dụng trong quá trình thiết kế, từ phác thảo ý tưởng tới tìm kiếm giải pháp tối ưu và hoàn chỉnh hồ sơ thiết kế qua hệ thống bản vẽ mô tả hình dáng 3D cho tới các thiết kế kỹ thuật 2D được biểu đạt rõ bằng ngôn ngữ tạo hình đã biết. Hiệu quả của những nguyên lý căn bản nêu trên đối với các sáng tạo hình thức làm cho yếu tố thẩm mỹ “nghiêm túc” được đảm bảo.

I.5. Phương pháp luận Design

I.5.1. Quy trình design

Quy trình design thường bao gồm 4 bước:

  • Tìm hiểu thông tin, nghiên cứu đối tượng và mục đích sử dụng, xác lập nhiệm vụ design. Sản phẩm của giai đoạn là các văn bản mang các thông tin.
  • Phác thảo, đề xuất các phương án, giải pháp. Lựa chọn phương án tối ưu. Sản phẩm là các phác thảo 3D.
  • Thiết kế chi tiết cấu tạo, kết cấu, mô hình hoàn chỉnh. Sản phẩm gọi là Hồ sơ thiết kế.
  • Chế tạo mẫu đầu. Sản phẩm là nguyên mẫu (prototype).

I.5.2. Một số phương pháp design

Có hàng trăm phương pháp design. Có thể kể ra một số phương pháp design như:

- Phương pháp 6 chiếc mũ tư duy (6 hats thinking method): Mũ Trắng khách quan (White hat: Objective – Hình tượng Tờ giấy trắng); Mũ Đỏ chủ quan, trực quan (Red hat: Intuitive – Hình tượng Ngọn lửa và nhiệt huyết); Mũ Đen bi quan, phản biện, phân tích mạo hiểm (Black hat: Negative – Hình tượng Quan tòa); Mũ Vàng lạc quan, tích cực (Yellow hat: Positive – Hình tượng Ánh nắng mặt trời); Mũ Xanh lục tư duy sáng tạo, tìm kiếm các giải pháp (Green hat: Creative – Hình tượng Cây cối và sự phát triển mạnh mẽ) và Mũ Xanh dương điều khiển, định hướng, ra quyết định cuối cùng (Blue hat: Process – Hình tượng Bầu trời và Cái nhìn tổng thể). Đây là phương pháp luận quan trọng để đánh giá và ra các quyết định.

- Phương pháp phân tích hình thái: Phương pháp luận sáng tạo của nhà thiên văn học Thụy Sĩ Ph. Krikki (1942). Bao gồm các bước: Khái quát chính xác  bài toán hay nhiêm vụ thiết kế; Lập danh mục các đại lượng đặc trưng cho sản phẩm; Theo từng đại lượng thống kê tất cả các phương án có thể; Phân tích tất cả các kết hợp tạo thành.; Chọn các kết hợp hay nhất. Đây là phương pháp căn bản để thiết kế cải tiến hoặc làm mới các các sản phẩm trên cơ sở lắp lẫn hoặc thay thế chi tiết cấu tạo thành phần.

- Phương pháp đối tượng tiêu điểm: Xác định ñoái töôïng thiết kế (tiêu điểm);  Tìm từ 3 đến 5 đối tượng ngẫu nhiên (có thể lấy bất kỳ thứ gì xung quanh chúng ta hay ta nghĩ đến (như từ điển, catalog, cuốn sách…); Lập danh sách các đặc tính của các đối tượng ngẫu nhiên; Đề xuất các ý tưởng bằng cách cho  đối tượng tiêu điểm những đặc tính của đối tượng ngẫu nhiên; Phaùt trieån caùc yù töôûng thu ñöôïc baèng caùc keát hôïp töï do; Đánh giá các ý tưởng nhận được và chọn ra các ý tưởng cốt lõi. Đây là phương pháp hữu ích cho việc cải tiến mẫu mã sản phẩm hoặc “độ, lên đời” sản phẩm cũng như tạo ra những nhân vật và thế giới siêu thực trong nghệ thuật truyện tranh và điện ảnh.

- Phương pháp Bảng câu hỏi kiểm tra: duøng caùc caâu hoûi ñeå daãn daét tôùi giaûi pháp cuûa thiết kế. Đây là phương pháp luận THỬ - SAI hoàn thiện. Mỗi một câu hỏi là một phép thử. Thường dùng Bảng 9 câu hỏi kiểm tra của A. Osborn (Mỹ) và Bảng 21 câu hỏi kiểm tra của Teiloart (Anh). Phương pháp này rất hữu ích cho các lĩnh vực thiết kế từ tạo dáng sản phẩm tới thiết kế trang trí nội ngoại thất.

- Phương pháp Đột kích não hay Tp kích não (Brainstorming): Alex Osborn đề xuất năm 1941. Ông đã mô tả tập kích não như là một kĩ thuật hội ý bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề đặc trưng bằng cách góp nhặt tất cả ý kiến cuả nhóm người đó nảy sinh trong cùng một thời gian theo một nguyên tắc nhất định. Ngày nay, phương pháp này không nhất thiết phải cần có nhiều người mà một người cũng có thể tiến hành. Phương pháp này thường áp dụng trong lĩnh vực đồ họa quảng cáo.

- Phương pháp Bản đồ tư duy: Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20) bởi Tony Buzan như là một cách để giúp học sinh "ghi lại bài giảng" mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh. Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn. Đến giữa thập niên 70, Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã truyền bá kĩ xảo về giản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện giáo dục.

II. DESIGN CHUYỂN HÓA BẢN SẮC VIỆT THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI

II.1. Bản sắc Việt

PGS. Phan Ngọc cho rằng “có một bề dày văn hóa chưa đủ, mà phải biết khai thác, chuyển hóa nó theo hướng hiện đại”. Kế thừa truyền thống văn hóa nhưng cũng cần tiếp nhận và biến đổi theo cái mới, là quan điểm đúng đắn của sự phát triển.      

Đã có nhiều đề tài nghiên cứu, sách viết về bản sắc văn hóa Việt Nam. Trong Design/MTƯD, bản sắc văn hóa, dân tộc là ngôn ngữ hình thức (hay còn gọi là phong cách) của nền văn minh vật chất của một dân tộc. Đặc trưng hình thức hay đặc trưng phong cách bản sắc Việt là một nhánh, một nguồn của định hướng ý tưởng và giải pháp thiết kế, tương tự như những phong cách nghệ thuật đã trở thành phong cách thời đại của các nền văn minh và văn hóa trong lịch sử hay các phong cách nghệ thuật thời kỳ hiện đại đã thành danh. Ví dụ phong cách Hi La cổ đại, phong cách Baizantin (Byzantine), Rôman (Romanesque), Gôtíc (Gothic), Phục hưng (Renaissance), Ba rốc (Baroque)… hay Tân Nghệ thuật (Art Nouveau), Cấu trúc Chủ nghĩa (Constructivism), Phong cách (De Stijl), Chủ nghĩa Công năng (Functionalism), Trang trí Nghệ thuật (Art Deco), Tối giản Chủ nghĩa (Minimalism), Nghệ thuật đại chúng (Pop Art), Hậu hiện đại (Postmodernism), Công nghệ cao (Hi-Tech)…

Bản sắc Việt là ngôn ngữ cụ thể của nơi ở (kiến trúc), cái ăn (ẩm thực), cách mặc (trang phục), lao động (phương tiện, công cụ) thường có mối liên hệ mật thiết tới điều kiện địa lý vùng miền, khí hậu, lịch sử, văn hóa… Và vì thế nơi ở, cái ăn, cách mặc, lao động của 3 miền Bắc – Trung – Nam lại có những đặc thù và khác biệt. Sự đa dạng phong phú đó là nguồn cảm hứng vô tận cho sự sáng tạo của design, bên cạnh những ý tưởng khai thác từ khung cảnh thế giới thiên nhiên gần gũi với lối sống mỗi vùng cho tới những va chạm với xu hướng phong cách hiện đại như những phong cách có tính quốc tế thời kỳ mở cửa hội nhập thị trường toàn cầu và thời đại văn hóa đại chúng (pop culture/mass culture).

Có nghĩa rằng ngôn ngữ hình thức đa dạng phong phú và bản sắc của một dân tộc nói chung, bản sắc Việt nói riêng đối với design trong hệ thống quy chiếu Thiết kế - Sản xuất - Tiêu dùng chỉ phản ánh một dòng nhu cầu của thị trường tiêu dùng chứ không phải tất cả. Có điều cho đến nay chưa có số liệu thống kê khả dĩ cho thấy phân khúc thị trường đối với dòng sản phẩm/tác phẩm thủ công mỹ nghệ hay design khác khai thác ngôn ngữ hình thức bản sắc Việt để có thể đánh giá thực trạng của nhánh MTƯD này.

Trong bài tham luận này người viết chưa đi sâu nghiên cứu để có thể mô tả phần nào một số đặc trưng bản sắc Việt trên quan điểm như một ngôn ngữ hình thức của design thông qua đặc trưng nơi ở, cái ăn, cách mặc… vốn là vấn đề chưa rõ ràng, thống nhất và vẫn còn nhiều tranh luận. Nhưng chắc chắn rằng bản sắc Việt chỉ là một phần cảm hứng của những ý tưởng và giải pháp design thời nay cho những sản phẩm/tác phẩm và những khách hàng của một thị phần mà thôi.

II.2. Những tiền đề cho chuyển hóa bản sắc Việt theo hướng hiện đại.

II.2.1. Nền kinh tế mở cửa hội nhập thị trường toàn cầu.

Năm 1986 được coi khởi đầu cho thời kỳ mở cửa, hội nhập thế giới của VN và ngay lập tức VN trở thành một thị trường mới của thế giới với nhu cầu của gần trăm triệu dân không hề nhỏ. Hàng loạt các thương hiệu nổi tiếng thế giới đã tìm đến thị trường Việt Nam thời mở cửa với khoảng 90 triệu người, đứng thứ 13 thế giới và là thị trường tiêu thụ phát triển mạnh nhất thế giới trong ba thập niên vừa qua và hiện nay. Đó là những thương hiệu của thế giới vật chất tiêu dùng: Xe hơi, xe máy, thời trang, mỹ phẩm, thực phẩm, đồ uống, hàng điện tử công nghệ cao và cả những nguồn tư bản tìm cơ hội đầu tư. Người tiêu dùng có cơ hội được lựa chọn nhiều nhãn hiệu tốt hơn, rẻ hơn so với trước đây. Người tiêu dùng trẻ tuổi lại càng choáng ngợp trước những sản phẩm từ nghe nhìn cho tới món ăn nhanh, nước ngọt giải khát kiểu mới, một lối sống thời pop.

Đi cùng sản phẩm, hàng hóa, du nhập vào VN ngày càng nhiều khách du lịch với mong muốn tìm hiểu văn hóa, con người và thưởng thức những những “của ngon vật lạ” nơi miền đất còn nhiều lạ lẫm và ít biết đến vì đối với thế giới VN là đất nước của chiến tranh, nghèo khó và lạc hậu.

Rõ ràng dưới góc độ thị trường tiêu dùng, hội nhập thị trường toàn cầu là cơ hội để người tiêu dùng VN được lựa chọn nhiều sản phẩm tốt đồng thời cũng là cơ hội để những sản phẩm văn hóa VN giới thiệu ra nước ngoài, đặc biệt sản phẩm thủ công mỹ nghệ, quà tặng lưu niệm khách du lịch sẽ mang đến mọi vùng thế giới.

Hiện đại hóa sản phẩm thủ công mỹ nghệ là cách người Nhật đã thành công khi ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại cho sản phẩm hình thức đặc trưng thủ công truyền thống của họ. Khách hàng nước ngoài cảm nhận ngôn ngữ hình thức của sản phẩm thủ công qua đặc trưng văn hóa mang tính biểu tượng theo cách hiểu đại chúng (popular) chứ không nhất thiết theo cách hàn lâm, soi xét kỹ lưỡng vật liệu - công nghệ - giá cả - thẩm mỹ - nghệ thuật. Tổ chức JICA của Nhật cách đây 10 năm (2004) đã từng hỗ trợ VN nghiên cứu nhằm hỗ trợ các làng nghề truyền thống khôi phục sản xuất và hiện đại hóa theo hướng công nghiệp. Họa sĩ Lê Huy Văn khi đó là Phó Hiệu trưởng Trường ĐH MTCN Hà Nội là người tham gia dự án “Nghiên cứu, quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hóa nông thôn Việt Nam” do Bộ NN&PTNT cùng cơ quan hợp tác quốc tế JICA Nhật Bản chủ trì và kết qua đã cho ra đời cuốn tài liệu “Thiết kế - Hiểu biết và thực tiễn” trong đó thử hệ thống hóa các khái niệm về thiết kế, thiết kế tốt cũng như ảnh hưởng và vai trò của design đối với phát triển thủ công mỹ nghệ VN, cần quan niệm sản phẩm TCMN là hàng hóa như mọi hàng hóa khác, tuân theo quy luật cung-cầu và quy luật giá trị. Tiếc là cuốn tài liệu mới chỉ dừng lại ở giải thích những khái niệm chứ chưa trở thành chuyên khảo làm nền tảng cho cơ sở lý luận về design.

Các nước đông bắc Á khác như Trung Quốc, Hàn Quốc đều phát triển mảng sản phẩm thủ công mỹ nghệ thành ngành sản xuất công nghiệp từ lâu.

Nền kinh tế khởi sắc và VN đã thoát khỏi danh sách các nước chậm phát triển. Đời sống kinh tế tăng trưởng là động lực tốt cho ngành MTƯD/Design. Cần có thêm những nghiên cứu ứng dụng và hội thảo chuyên đề về Bản sắc Viêt nhằm định nghĩa rõ khái niệm, loại hình, đặc điểm và xác lập những motif điển hình phong cách bản sắc Việt cho nhóm quà tặng, đồ lưu niệm và hướng tới phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ văn hóa và du lịch. Đặc biệt song hành cùng những sản phẩm TCMN việc xây dựng bản sắc Việt rất quan trọng ở chỗ xây dựng, phát triển đồng bộ các loại hình nghệ thuật truyền thống, nghệ thuật phi vật thể như văn chương thơ ca, múa, nhạc và tạo hình như tranh tượng dân gian, các làng văn hóa với kiến trúc đặc trưng truyền thống, và cần tái tạo ngay trên chính mảnh đất đã sinh ra và nuôi dưỡng nghệ thuật truyền thống đó, như đã làm khá tốt là làng gốm Bát Tràng… chứ không phải gom về một “công viên văn hóa các dân tộc” hoành tráng mà kém hiệu quả như hiện nay.

II.2.2. Nguồn lực các nhà thiết kế ngày càng mạnh

Trong đề tài NCKH cấp Bộ mã số B2005-05 (2005-2006) “Xây dựng chiến lược phát triển đào tạo ngành MTCN thời kỳ đầu công nghiệp hóa tại Việt Nam” (Trần Văn Bình chủ trì), tác giả đã đề cập tới thực trạng ngành MTCN VN trong đó nguồn lực designer được đào tạo ngày càng nhiều do sự xuất hiện của hàng loạt các cơ sở đào tạo thiết kế, MTCN, đặc biệt khu vực phía Nam, TP.HCM.

Trước 1993, cả nước có một trường đại học công – Trường ĐH MTCN Hà Nội. Các cơ sở đào tạo MTCN khác nằm rải rác ở một số trường đại học, cao đẳng khắp cả nước, nhưng từ khi mở ngành MTCN tại ĐH Bách Khoa TPHCM (1993) đã có hàng loạt các trường dân lập mở đào tạo ngành MTCN/design. Đến nay có thể kể thêm tên các trường có đào tạo MTƯD/design.

Hà Nội có các Khoa MTCN/MTƯD/Tạo dáng Công nghiệp ở các trường ĐH như ĐH Kiến trúc, ĐH  Mở, ĐH Á Châu. Huế có ĐH Nghệ thuật, Đà Nẵng có ĐH Kiến trúc, ĐH Duy Tân. TP.HCM có ĐH Kiến trúc, ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Văn lang, ĐH Công nghệ Sài Gòn (STU), ĐH Công nghệ TPHCM (HUTECH), ĐH Quốc tế Hồng Bàng, ĐH Hoa Sen… Các trường cao đẳng có CĐ MTTT Đồng Nai, CĐ Văn hóa Nghệ thuật TPHCM, CĐ Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch (TPHCM)… chưa kể các Trung tâm đang mở đào tạo ngắn hạn cấp chứng chỉ như Arena (FPT), ADC, ADS…

 Số lượng designer các ngành Đồ họa, Nội thất, Tạo dáng, Thời trang ra trường mỗi năm ngày càng tăng, đáp ứng nhu cầu to lớn của các doanh nghiệp và xã hội. Đó là nguồn lực đáng kể kỳ vọng cho sự phát triển Design/MTƯD VN.

(Còn tiếp P2)

 


A.M.C STUDIO

A.M.C kết nối

Lượt xem

  • Đang xem:
  • Tổng lượt xem: