amedia

Vì sao lại là Chủ nghĩa hiện thực? (Phần 2)

08-08-2017 11:39:51


Bài viết của Frederick Ross Ngày 7 tháng 2 năm 2014, bài phát biểu quan trọng từ nhiều họa sĩ gửi tới Hiệp hội họa sĩ vẽ chân dung Connecticut.
Trịnh Nhật Vũ dịch.

AMC giới thiệu cùng các bạn (Phần 2)

Sự liên quan cần phải hiểu theo nhiều cấp độ và có lẽ một trong những yếu tố quan trọng nhất, để hiểu nghệ thuật ở mọi kỷ nguyên, là được nhìn nhận trong bối cảnh lịch sử. Việc thấu hiểu thế kỉ 19 sẽ chỉ lối cho chúng ta biết được nghệ thuật quan trọng tới thế giới ngày hôm nay như thế nào. Để hiểu được giá trị của William Bouguereau và các bậc họa sư khác của thế kỉ 19, chúng ta cần thiết phải đặt họ trong bối cảnh khi đó. Và những gì đã xảy ra trong lịch sử trong suốt thời gian của họ có thể coi là “thời khắc quan trọng bậc nhất”. Vâng, tôi đang nói về một vài những sự kiện đặc biệt nhất của lịch sử loài người. Những họa sĩ cổ điển thế kỉ 19 không những chỉ “có liên quan” tới thời họ sống, hay liên quan tới một mảng chính trong lịch sử nghệ thuật, mà họ còn đặt dấu mốc cho sự tiến hóa của chính nghệ thuật, điều họ đã theo đuổi sẽ chắc chắn được đánh giá là một bước ngoặt trong lịch sự con người. Lịch sử nghệ thuật đã luôn đúng hướng trong việc miêu tả nghệ thuật từ thời điểm đầu của thế kỉ Phục Hưng cho tới những năm 1840. Trong phần lớn thời gian đó, những sử gia nghệ thuật đã đưa tới nỗ lực và gần tới hạn tầm mức của họ hoặc chí ít họ đã để lại những ghi chú có lý. Điều đó hoàn toàn đúng đắn cho tới khi chúng ta tiến tới giữa thế kỉ 19. Từ những năm 1848 trở đi, tất cả các tiêu chuẩn bình thường để đánh giá, mô tả và ghi chép lịch sử nghệ thuật đã bịcác nhà giáo dục thế kỷ 20 quăng ra ngoài cửa sổ. Hầu hết tất cả các sách giáo khoa nghệ thuật được sử dụng từ giữa thế kỷ 20 đã viết lại lịch sử của thế kỷ 19 để phù hợp với nhu cầu và thành kiến của thế giới nghệ thuật “hiện đại”. Giới “hiện đại” đã nhìn toàn bộ lịch sự nghệ thuật dưới lăng kính “chủ nghĩa giải cấu trúc”, cái nhìn xác định điều quan trọng, có giá trị và có liên quan chỉ thuộc về những tác phẩm có tính chất phá bỏ hết những lề luật và thang giá trị của các tác phẩm trước đó, vốn đưuọc coi trọng và tán dương. Lịch sử nghệ thuật đã chứng kiến một cuộc hành quân từ sự kiện “bước ngoặt” của chủ nghĩa Ấn tượng, qua dòng chảy đa hướng các xu hướng mới dẫn tới nghệ thuật trừu tượng, và được cổ xúy bằng một tinh thần sùng đạo sâu sắc bởi những người bám theo “trang sử mới” này rằng trừu tượng là dạng nghệ thuật với hình thức và phong cách vĩ đại nhất. Sau đó, với lối suy nghĩ nước đôi của George Orwell trong tác phẩm “1984”, họ phân chia những kỉ nguyên trước đây (trước thế kỉ 19) thành những mảng lịch sử riêng rẽ. Cứ như thể là có một ai đó viết về lịch sử nghệ thuật với một thang giá trị đã định sẵn, và rồi một trang sử nghệ thuật mới được xây dựng trên việc phủ nhận sự liên đới của thế kỉ 19 bằng cách công kích mọi thang giá trị được công nhận từ những thế kỉ trước đó. Thật vậy, họ đã tạo ra một sự phân ly vô lý một các cùng cực.

Chúng ta cùng nhìn lại xem thành tựu gì đã thực sự đạt được bởi những họa sĩ cổ điển cuối thế kỉ 19. Trên thực tế,thành tựu đó nằm trong lĩnh vực phẩm giá con người, trong đó họ tìm thấy những chân trời thực sự phi thường của các nhà văn và các nghệ sĩ thời đó. William Bouguereau, người được coi là họa sĩ vĩ đại nhất nước Pháp trong thế kỉ mà ông sống, là ví dụ điển hình của tôi, vì rất nhiều nghệ sĩ khác đã mô phỏng và ngưỡng mộ công việc của ông và tiếp nối lĩnh những thành tựu của ông. Ông bị dè bỉu vì chỉ làm việc cho khách hàng tư sản của mình, nhưng thật ra ông tự hào khi vẽ được bất cứ thứ gì ông muốn và nhu cầu sở hữu tác phẩm của ông tuyệt vời đến mức hầu hết các tác phẩm đều được bán trước khi sơn khô. Ông là một kẻ nghiện lao động khi dành 14 đến 16 tiếng mỗi ngày cho việc vẽ. Ông có quan tâm cá nhân trực tiếp đến nhân viên, sinh viên và đồng nghiệp của mình và được biết đến cho sự rộng lòng trong việc giúp hầu hết những ai cần trợ giúp. Ông được yêu mến bởi tất cả mọi người, Tôi đã đọc rất nhiều những bức thư viết gửi ông bởi những con người này. Chúng tôi thậm chí còn đang lưu trữ một vài văn bản gốc trong văn khố về Bouguereau. Một bức thư hết sức xúc động viết gửi ông bởi một họa sư lớn tuổi cùng thời, Paul Delaroche. Delaroche sinh năm 1797, hơn Bouguereau 28 tuổi, nhưng trong bức thư mà chúng tôi có được, ông cảm tạ người bạn tốt Bouguereau đã cho ông mượn một khoản tiền, và thừa nhận đã lãng phí một số khoản thu nhập mà ông có thể đã trả Bouguereau trở lại sớm hơn và cảm tạ Bouguereau cho phép ông có thêm thời gian hơn để trả nợ. Bouguereau cũng đóng vai trò trung tâm trong việc mở Salon Paris và Học viện Pháp cho các họa sĩ nữ. Bắt đầu từ năm 1868, ông cùng với Rudolph Julian, Jules Lefebvre, Gabriel Ferrier và Robert Tony Fleury, tất cả trong số họ là những họa sĩ thành công nhất và nổi tiếng của Pháp, bắt đầu tổ chức các lớp học bình thường và phê bình cho phụ nữ. Đến năm 1893, tất cả các trường học lớn đều có các khóa học dành cho phụ nữ, ngay cả trường đại học Academie Francais nổi tiếng. 

"The Hémicycle", 1853, sơn dầu trên toan, 41.6 x 257.3 cm, Charles Béranger & Paul Delaroche, Centre Street: Fourth Floor: From Rye to Raphael, the Walters Story

Bouguereau sinh năm 1825, sau cơn bão của cuộc Cách mạng Mỹ và Pháp, hai sự kiện lớn hơn bất kỳ sự kiện nào khác đã đạt những bước đột phá của tư duy Khai sáng. Bouguereau và Victor Hugo đứng ở vị trí hàng đầu trong danh sách các họa sĩ và nhà văn hàng đầu trong thời đại của họ, mà công việc của họ là để soạn thảo những tiến bộ đó, và bắc một cây cầu từ tình trạng xã hội con người hơn ngàn năm bị cai trị bởi vua chúa bằng quyền lực tối thượng tới nền văn minh của con người và luật pháp, nơi các chính phủ chỉ có thể đạt được tính hợp pháp từ sự tán thành trong việc quản trị: công bằng, bình đẳng theo luật pháp, bầu cử bằng cách phổ thông đầu phiếu. Tự do báo chí cho phép và bảo đảm tiết lộ, tranh luận và giải quyết vô số những bất công của những tổ chức đương hiện hành và ngoan cố, nơi vẫn bị bí ẩn che phủ bởi những tí đồ cùng tín điều cũ và các kẻ cai trị chiến đấu để nắm giữ quyền lực của họ. Tôi xin phép được trích dẫn phát biểu từ ngài Alexis De Tocqueville trong cuốn “Dân chủ ở Mỹ”, viết năm 1835-1840, ông cho rằng:

“Cái xã hội của thế giới hiện đại, mà tôi đã tìm cách mô tả và muốn đánh giá, đã ra đời. Thời gian là chưa đủ để tạo nên hình thái hoàn thiện của xã hội đó: cuộc cách mạng vĩ đại, đã được tạo ra từ cái xã hội đó chưa kết thúc; và giữa những sự kiện xảy ra trong thời đại của chúng ta, nó gần như là không thể để phân biệt điều gì sẽ phai tàn cùng với bản thân cuộc cách mạng, và điều gì sẽ tồn tại sau cùng. Một thế giới đang mau chóng xuất hiện vẫn bị mắc kẹt một nửa bởi những gì còn lại từ thế giới cũ, thế giới mà đã rơi vào vực sâu,; và giữa những hỗn tạp to của mối quan hệ con người, không một ai có thể nói rằng bao nhiêu trong số những tổ chức và cách thức đối xử cổ kính sẽ còn tồn tại, hoặc bao nhiêu trong số những giá trị đấy sẽ biến mất hoàn toàn.”

Khó có thể biết được nơi chúng ta sẽ kết thúc, nhưng rõ ràng là điều đó là cần và thiết yếu nếu con người mong tổ chức cuộc sống của họ trong an bình, chỉ những người tự do và an bình mới có thể xây dựng nền văn minh phù hợp với Văn hóa và nghệ thuật. Vậy nên, chính những nhà văn và nghệ sĩ của thế kỷ “tự do và bình đẳng” đầu tiên của thế kỷ 19, đã coi đó là nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong việc tổ chức, soạn thảo, quảng bá và bảo vệ các giá trị, lề luật và các thể chế dân chủ hoá trong xã hội, điều có thể đảm bảo sự tồn tại lâu dài của sự bình đẳng. Một phong cách sống gần đây đã hòa nhập vào đời sống của con người. Cách mà các nhà văn và nghệ sĩ thế kỉ 19 đã khai phóng những bổn phận này chắc chắn sẽ tác động và ảnh hưởng tới những thế hệ tương lai, có lẽ là cả ngàn năm tới.

Jean-Jacques Rousseau đã nức nở trong phần đầu của tác phẩm ghi dấu nhất của ông, Khế ước xã hội, rằng: “Người ta sinh ra tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích.” Tác phẩm của Rousseau tập trung tới một trong những tư tưởng quan trọng nhất, điều đã sinh ra thế giới phương tây từ “đêm trường trung cổ”, và bảo vệ con người khỏi thương tổn trước những mánh khóe của kẻ độc tài, hay một vị vua tối thượng. Những kẻ mà chỉ quan tâm tới quyền lợi của mình được xác nhận và hợp pháp hóa bởi “quyền lực tối thượng”, Thế giới phương Tây đã dịch chuyển từ một thế giới chất đầy những “sắc lệnh tối thượng” tới một thế giới được cai trị bởi khái niệm “chủ quyền quốc gia”. Thuật ngữ “ý chí tập thể”, “khế ước xã hội”, và “chỉnh phủ của, do và vì người dân” được phổ biến mọi nơi trên khắp thế giới tân “tự do”.

Những tư tưởng cách mạng này đã trở thành khái niệm thực sự mà ý nghĩa và sự thấu hiểu từ nó gia tăng trong các lớp học, truyền bá rộng rãi tới các nông dân trên cánh đồng, các công nhân ở nhà máy hay bến tàu, tất cả những cá nhân tham gia vào những ích lợi từ một xã hội dân chủ và tân tự do khơi sinh từ thế kỉ 18 dẫn tới những thành tựu của thế kỉ 19. Sự chuyển dịch này bắt đầu bắt đầu giới hạn, đánh dấu bằng sự kiện những người chủ đất bỏ phiếu để cho gia đời Hiến pháp Mỹ, và sau đó phổ biến rộng rãi rồi kết thúc trong thế kỉ 20 với hai cuộc chiến tranh thế giới, cuộc Đại khủng hoảng, và vô số những điều kinh khủng. Chúng ta nhìn thấy sự tiến hóa từ hình thái xã hội nông nghiệp chuyển sang hình thái xã hội công nghiệp và rồi hình thái xã hội công nghệ cao ngày hôm nay.

Đó là những niềm tin cốt lõi và đột phá của thời kì Khai sáng, ý tưởng và khái niệm khai phóng từ nó, là những điểm mấu chốt để thấu hiểu ngữ cảnh mà những họa sĩ thế kỉ 19 đã sống. Thực sự họ đã chạm tới trái tim của tư duy Khai sáng. Bouguereau vẽ những cô gái thôn dã với một niềm trang trọng, một vẻ đẹp thầm lặng và tôn kính. Một tác phẩm khác của ông thể hiện một thiếu nữ nông dã đang ôm món đồ của mình và nhìn trực tiếp thẳng vào khán giả với ánh mắt cương nghị. Có thể hiểu là, thiếu nữ ấy đang đứng trên mảnh đất của cô. Trom một tác phẩm quan trọng khác với kích thước tỉ lệ thật, một bà mẹ gypsy ôm đứa con gái của mình, cà hai cùng đứng trên núi và nhìn xuống khán giả. Cái nhìn của họ trực tiếp nhưng chào đón. Trong bức tranh đó, Bouguereau ca ngợi những người gypsy này bằng cách diễn tả họ trên một bầu trời rộng lớn cùng với đường chân trời. Chúng ta đang nhìn lên phía họ. Biểu hiện bao dung và chào đón của họ ngụ ý sự chấp nhận chúng ta; người thưởng ngoạn bức tranh như được yêu cầu để hồi đáp lại lòng tôn trọng đó, điều chỉ có thể được đối thoại đặc biệt riêng tư bởi sự chấp nhận của chúng ta đối với họ bất kể xuất thân thấp kém của họ. Điều chân thật và hiện thực do xuất thân của họ từng bị phản đối, nay họ được nâng lên thiên đường...nơi mà tất cả nhân loại cư ngụ.

"Jeunes Bohemiennes", 1879, sơn dầu trên toan, 166 x 99 cm, William Bouguereau, bộ sưu tập của Fred và Sherry Ross

Trong thế kỷ 19, mọi người làm bất kỳ điều gì và hoạt động gì, đều được coi là đối tượng xứng đáng và chủ đề cho các nghệ sĩ khai thác. Những chủ đề bao gồm vẽ những người nghèo và vô gia cư, người phụ nữ bị ném ra ngoài trời băng giá hay trẻ em lao động mệt nhọc cho tới tận đêm khuya cho đủ 16 tiếng làm việc một ngày. Đó còn là những khung cảnh đám cưới, trẻ con và đời sống gia đình; khung cảnh trường học, tòa án, bệnh viện, công xưởng, công viên, đồi núi và vô vàn các chủ đề khác. Ví dụ, một chủ đề phổ biến là các giáo sĩ đạo đức giả rao giảng về việc từ bỏ các tài sản thế gian trong căn hộ sang trọng chứa đầy đồ mỹ nghệ và đồ cổ cùng những người hầu. Quả là một cuộc cách mạng đối với các họa sĩ. Khi Vibert, Brunery hoặc Crogaert châm chọc giáo sĩ, và vẽ các hồng y trong môi trường xung quanh lộng lẫy, chơi bài với những người khách khá trẻ, hay cảnh thuê dịch vụ xem tử vi từ một thầy bói, các họa sĩ ám chỉ rằng giáo sĩ cũng là người thường và cũng dễ bị thương tổn bởi những điểm yếu và mong manh như những người khác. Nhưng trên hết, việc trêu ghẹo giới giáo sĩ là minh chứng cho nền tự do ngôn luận. Một vị giáo sư phái hiện đại có lần đã nói với tôi rằng “thật ngu dốt và xuẩn ngốc hết chỗ nói khi đặt các đức hồng y trong dáng bộ như thế.” Định kiến của ông ta đã che mờ ngay tại giây phút đầu tiên khả năng để hiểu điều mà Vilbert muốn truyền đạt...định kiến mà ông ta biểu lộ rơi vãi từ các nhà cai trị trước đây của xã hội. Chúng ta đã bị giao giảng để nâng cao những họa sĩ mà phá vỡ những lề luật, những quan điểm được quy ước, hay phá bỏ cách vẽ hiện thực, hoặc dám bất tuân những giới luật trước đây. Nhưng những họa sĩ cổ điển, những người ở tiền tuyền trong việc giúp đỡ chúng ta đạt được tự do và quyền lợi, cũng đồng thời giúp tạo ra một môi trường cho phép tồn tại khả năng cân nhắc phá bot những giới luật trong nghệ thuật. ...với so sánh này, việc phá bỏ các quy ước là không cần quan trọng trong việc dẫn tới tự do và công lý cho con người. Trong những thế kỉ trước, một người họa sĩ chắc chắn sẽ bị chặt đầu vì dám trọc ghẹo đức hồng y theo cách này.

Từ việc vạch trần những bệnh tật của xã hội và đề cao những giá trị chân thực và bình đẳng nơi con người, và chỉ thiếu một nửa bước chân nữa để khám phá cuộc sống nội tâm của từng cá nhân, trân trọng và nâng cao đức tin, ước vọng và những giấc mơ của con người. Đối với những họa sĩ cổ điển và nhà văn thế kỉ 19, lòng nhân đạo là điều quan trọng nhất, là điều khiến chúng ta trở nên thành con người thực thụ, với cách chúng ta nhìn bản thần và nhìn nhận thế giới. Lòng nhân đạo được tôn vinh, bất kể người đó thuộc chủng tộc và dáng hình nào, quốc gia hay màu da nào, nghề nghiệp và địa vị ra sao. Chúng ta được coi trọng...Chúng ta là chủ đề vĩ đại nhất trong tất cả các chủ đề đối với sự sáng tạo của những tâm trí nghệ thuật lớn nhất trên trái đất. Mọi thứ về lòng nhân đạo đã trở thành nguồn cảm hứng mới cho những hình thức độc đáo của cách giao tiếp mà được sáng tạo bởi những áng văn xuôi của nhà văn, các khổ thơ ngũ cú của nhà thơ, và bởi sắc màu từ họa sĩ. Và chúng ta cảm thấy vinh dự làm sao, khi hàng ngàn họa sĩ sáng tác ra hàng triệu hình ảnh, phần nhiều là mới mẻ và nguyên gốc, và những tác phẩm vĩ đại nhất trong các tác phẩm vĩ đại là kiệt tác với những phẩm chất hoàn hảo nhất.

Điều mà những người chủ nghĩa hiện đại đã làm là hỗ trợ và khuyến khích sử hủy hoại thứ ngôn ngữ hoàn cầu mà bằng thứ ngôn ngữ đó, người họa sĩ có thể giao tiếp với nhân loại tới nhân loại. Việc vạch trần sự thật về lịch sử nghệ thuật của chủ nghĩa hiện đại đã trở thành mục đích chính của tôi trong nhiều năm ròng, và trong chủ đề được quan tâm rất nhiều là truy vấn những thực hành có ý định là tê liệt lịch sử nghệ thuật bằng cách cố ý ngăn chặn sự hiểu biết hợp lý và chính xác về những gì đã xảy ra. Và điều quan trọng nhất là lịch sử những điều đã thực sử tồn tại sẽ không bị bỏ quên vì định kiến và khẩu vị tạm thời của một thời đại đơn lẻ. Đây là điều cần phải làm nếu lịch sử nghệ thuật, như một lĩnh vực của học thuật chưa được khám phá một cách cặn kẽ, đã bị coi chẳng có giá trị gì khác hơn là những văn bản tuyên truyền; hay thậm chí lịch sử nghệ thuật còn bị sử dụng với mục đích tăng giá trị cho các bộ sưu tập trên danh nghĩa là kho lưu trữ giá trị. Những tay buôn thành công, kẻ mà đã vét được một lượng lớn tài sản qua việc bán những tác phẩm...mà được sáng tác trong vòng vài giờ thay vì vài tuần...chẳng có chút vấn đề nào trong việc chắp ghép những ngôn ngữ rời rạc để xây nên một ma trận phức tạp ngữ nghĩa rồi trưng bày khắp mọi nơi cứ như thể là dạng phân tích sáng chói. Những bài luận có ảnh hưởng tới thị trường nghệ thuật đảm bảo tính thanh khoản cho những bộ sưu tập. Như “artspeak” với tên gọi được biết đến rộng rãi, là một dạng mưu kế sử dụng một cách chủ đích sự kết hợp ngôn từ phức tạp và xoắn xuýt để tạo ấn tượng, thôi miên và sau cùng là làm câm lặng những bản năng nơi con người. Vì thế cho nên nó không thể định dạng một cách trung thực điều được phô trương trước đó. Điều này được hoàn thiện qua việc tẩy não dựa trên tính thẩm quyền, gây nhiễu những thụ cảm của giác quan của chúng ta nếu không bất kỳ một người tỉnh táo nào sẽ dấy lên câu hỏi. “Thẩm quyền” trong địa vị, “thẩm quyền” trong việc xuất bản và in ấn, và “thẩm quyền” trong việc kiểm được phép gắn liền với những tên tuổi tiên phong của chủ nghĩa hiện đại, những thẩm quyền này đã có âm mưu tạo ấn tượng và thóa mạ những ai dấy lên niềm đồng cảm khi phản đối và những chứng cứ đối lập sẽ bị coi là vô nghĩa nếu không được thốt lên hoặc viết ra bởi những người được chống lưng bởi những nhân vật có “thẩm quyền” kia.

Và từ ngữ diễn tả hiện tượng này phù hợp nhất là “gợi ý có uy tín”. Mỗi khi một nhân vật hay một thương hiệu sản phẩm có những cái bẫy và biểu tượng cho chất lượng, bao gồm giá trị thẩm quyền từ chuyên gia, thì người ta sẽ nhìn chất lượng, giá trị hay tầm quan trọng thông qua những biểu tượng. Ví dụ, một khách hàng giàu có trông thấy một cái ví với tên nhãn “Prada” hay “Gucci” gắn trên đó và cô ta sẽ tự động phỏng đoán giá trị và chất lượng. Có thể giá tiền sẽ là $1800 và nếu nó đang được giảm giá còn $1200, cô ta sẽ tin rằng đó là một món hời và sẽ vinh dự khi đeo nó trên tay và khoe với nhóm bạn. Hãy thử lấy cùng một chiếc ví đó mà không kèm nhãn hiệu và thử bán nó trên một chiếc bàn ngoài dãy phố số 42 với giá tiền $80, cô ta sẽ nghĩ giá này hơi cao và hẳn sau khi mặc cả xuống tới $40, cô sẽ mua nó liền. Cái tên Prada và sự thật là khi được bày bán ở gian hàng của Bergdort’s hay Bloomingdale’ nó sẽ có xu hướng tạo nên uy tín và giả định sẵn về giá, những điều gợi ý đó sẽ tự động kích hoạt trong tâm trí người mua.

Nhiều năm trước tôi đã có một chuyến viếng thăm tới nhà máy lắp ráp của General Motors và chứng kiến họ lắp ráp một chiếc Chevrolet. Rồi một chiếc xe giống như thế được đưa xuống băng chuyền và họ đặt một chiếc giá sắt và mui xe khác vào rồi dán nhãn cho nó là Oldsmobile. Rồi chiếc thứ thứ 3 được đưa xuống băng chuyền và họ vẫn lắp cái giá sắt đó lên và dán nhãn cho nó là Cadillac. Gần như mọi thứ về chiếc xe giữ nguyên nhưng chiếc được dán nhãn Cadillac có giá gần gấp đôi giá chiếc Oldsmobile và chiếc Oldsmobile có giá gấp 3 lần giá chiếc Chevy.

Đó là đề xuất uy tín và có sự khác biệt rõ ràng giữa giá trị dựa trên uy tín và giá trị dựa trên chất lượng nội tại. Điều này cũng tương tự với việc những bức toan vẽ với rất ít giá trị nội hàm với chữ kí của De Kooning, Pollack, Rothko hay Mondrian được thừa nhận có giá trị cao bởi vì nhân vật với học hàm Tiến sĩ hoặc với vị trí Giám đốc bảo tàng gắn liền cạnh tên họ sẽ nói với chúng ta phải nghĩ gì về giá trị của những bức vẽ đó, hay những tay buôn thượng hạng và những nhà đấu giá sẽ thừa nhận giá trị vài triệu dollards cho những bức vẽ đó, và nói với người ta rằng một triệu dollards được đầu tư hôm nay sẽ đem lại mười triệu dollards trong tương lai. Phần lớn người ta không cảm thấy mình đủ kiến thức để biết được cái nào có giá trị và cái nào không khi phải đối diện với một chiếc thảm Ba tư hay một chiếc đồng hồ đeo tay, điều đó càng đúng với tác phẩm nghệ thuật, cho nên thậm chí nếu trực cảm của họ có phủ nhận điều gì đó thì họ giữ im lặng bằng không họ sẽ vạch trần thành một trò cười hoặc bị coi là ngạo mạn.

“Gợi ý có uy tín” khiến người ta tự động phỏng đoán rằng một tác phẩm chắc hẳn là tuyệt vời nếu nó được tạo bởi bất cứ ai trong những “tên tuổi lớn” của nghệ thuật hiện đại, nên ngay trong giây phút đầu tiên người ta đã nhìn về sự vĩ đại. Nếu họ không nhìn thấy sự vĩ đại họ bị làm cho tin rằng đó là do sự ngạo mạn và thiếu thốn nhạy cảm nghệ thuật của họ. Nhưng có thể, không bao giờ bởi vì lý do là bản thân tác phẩm nghệ thuật đó có những lỗi lầm. Việc thừa nhận nghi ngờ là làm cho mình dễ bị chế giễu và chế nhạo. Điều dễ dàng hơn là đi tới đâu, có tới đó. Khi thế hệ sinh viên bị vận hành dưới áp lực hăm dọa đó, bạn có thể chắc rằng, họ sẽ tìm thấy sự vĩ đại ở bất cứ nơi nào họ ngó tới. Điều ngược lại đã được đào tạo bên trong sinh viên khi họ ngắm nhìn những bức trành cổ điển. Họ đã được dạy rằng những tác phẩm mà được trưng bày dưới dạng hiện thực là dạng nghệ thuật tồi và vì thế cho nên bất kì điều tốt đẹp nào được nhìn thấy đều không dựa vào chất lượng của thành tựu nghệ thuật, nhưng dựa vào sự thiếu trí tuệ và gu thẩm mỹ của người xem.

Rất nhiều sinh viên và thậm chí giáo viên đã viết thư và nói với chúng tôi rằng chủ nghĩa hiện thực đã bị âm thầm hoặc công khai cấm hoạt động tại các phân khoa nghệ thuật. Nhận xét của John Stuart Mill về vấn đề này, (cái xu hướng tránh tranh luận, đối đầu hoặc hoàn toàn tảng lờ các góc nhìn khác) vẫn còn sống động cho tới ngày hôm nay như cách đây hơn hai trăm năm trước.

Khi nơi có một quy ước ngầm để các nguyên tắc không cần phải đem ra luận bàn, nơi mà cuộc thảo luận về những câu hỏi lớn nhất có thể thay đổi nhân loại bị từ chối, thì chúng ta chẳng thể hi vọng tìm ra những thực hành về tâm trí ở tầng mức cao, những thực hành tâm về tâm trí mà đã từng kiến tạo nên những thời đại huy hoàng.

Tuy nhiên với một thái độ không chần chừ, một cá nhân dù có một ý kiến vững chắc sẽ có thể thừa nhận khả năng rằng ý kiến của mình có thể sai lầm, người đó buộc phải thay đổi bởi sự xem xét rằng sự thật có thể tồn tại như là một giáo điều chết cứng, không phải là một sự thật sống động. Tiểu luận “Bàn về Tự do” của John Stuart Mill (trích từ “Từ những nhà tư tưởng chính trị vĩ đại” của Wm. Bernstien p.569) 

"John Stuart Mill", 1873, sơn dầu trên toan, 66 x 53.3 cm, George Frederic Watts

Nếu không có một nhóm hội năng động những chuyên gia giảng dạy về những kĩ thuật vẽ cổ điển, thực tế sẽ không bao giờ có khả thể để những khoa nghệ thuật có được những sinh viên với khả năng đào sâu các cuộc luận đàm và một môi trường học thuật hàn lâm cho tất cả các sinh viên sáng tạo những tác phẩm chất chứa những biểu hiện phức tạp và ý tưởng vi tế. Việc ngăn cấm những kĩ năng này được phép truyền dạy tại mọi viên ở bất cứ trình độ nào khiến câu chuyện trở nên nực cười như tồn tại khoa âm nhạc mà lại từ chối giảng dạy thang âm ngũ cung hay soạn thảo các bản nhạc chỉ từ ba cho tới bốn nốt nhạc.

Nếu không có điều gì hổ thẹn trong phương pháp giảng dạy và kết quả đạt được từ phương pháp đó, những vị chuyên gia cổ điển này sẽ chào đón cơ hội để đối mặt trực diện với những ý tưởng mà có lẽ họ nên được chuẩn bị để chối từ. (Những tư tưởng từ phái hiện đại-nd) Họ có một nghĩa vụ trang trọng để duy trì tính toàn vẹn của tư tưởng, những điều đã tồn tại nhờ sự truyền thụ trực tiếp tới họ bởi những họa sĩ, nhà văn và nhà tư tưởng của thế kỉ 19 và trước đó, những người đã gây dựng một hệ thống nơi tư tưởng tự do xuất hiện. Và đâu là nơi bảo vệ quan trọng nhất cho những giá trị đó hơn là những trường cao đẳng và đại học nghệ thuật của chúng ta, nơi đang đào tạo những thế hệ lãnh đạo tiếp theo? Nếu tại các trường cao đẳng và đại học đó không đồng tình với ý kiến trên, chí ít, họ phải có nghĩa vụ mở khả năng để sinh viên biết được những góc nhìn đối lập.

Tôi đã không bao giờ dám mơ rằng tôi có thể được nhìn thấy sự hồi sinh của một hệ thống đã đào tạo ra rất nhiều họa sĩ vĩ đại, nhưng điều này đang xảy ra ngay bây giờ và giải thưởng thường niên ARC Salon, bắt đầu từ năm 2003, đã phát triển mạnh mẽ qua từng năm. Giải thưởng này hiện được điều hành bởi con gái tôi Kara Ross, giám đốc quản lý ARC, một người mà tôi không thể tự hào hơn. Chỉ chưa tới 3 năm, ARC đã có số lượng thành viên gấp đôi và năm nay chúng tôi có gần 2200 thành viên mới. Mỗi năm, những họa sĩ chiến thắng được các gallery tuyển chọn và rất nhiều người trong số họ đang có một sự nghiệp vẻ vang.

Nelson Shanks là một họa sư còn sống đầu tiên của ARC và được ghi nhận là họa sĩ vẽ chân dung vĩ đại nhất 75 năm qua. Ông sẽ được vinh danh tại đây vào ngày mai, và tôi nghĩ rằng không ai xứng đáng hơn với giải thưởng này. Tôi cầu chúc cho ông và gia đình những lời phúc hạnh nhất và lòng biết của thế giới nghệ thuật hiện thực cho khả năng lãnh đạo và cống hiến của ông vì sự kỉ luật với hội họa.

Tôi mong tất cả các bạn hãy tham gia giải thưởng ARC Salon mỗi năm và đăng ký để trở thành thành viên ARC các họa sĩ hoặc họa sư đang sống. Chỉ khí những họa sĩ tốt nhất thế giới so tài hàng năm mới khiến cho giải thưởng một lần nữa có được tầm quan trọng lâu đời như giải thưởng Paris Salons trước đây. Mỗi năm, khi được chứng kiến những tác phẩm của các họa sĩ và sự trao đổi học thuật cũng những tri thức thẩm mỹ, tạo ra sự giao thoa nơi thử thách và đảm bảo những sự ganh đua ngày càng hoàn hảo hơn. Chúng tôi đã chuẩn bị tâm thế để chứng kiến hiện thực này. Vài năm trở lại đây, cuối cùng tôi cũng có thể nói rằng những họa sĩ tốt nhất ngày hôm nay đang nằm trong thời điểm tạo nên những tác phẩm kiệt xuất nhất ở trình độ cao nhất trong lịch sử nghệ thuật. Vài người trong số họ đã đạt được tầm mức đó và tôi kính mời các bạn hãy thưởng ngoạn những tác phẩm được trao giải của năm ngoái và những năm trước đó. Thời hạn cho giải thưởng ARC Salon năm nay vừa kết thúc ngày 31 tháng 1, và có khả năng trong tháng 4, kết quả sẽ được thông báo trực tuyến và tập san ARC sẽ được giới thiệu ngay sau đó. Chúng tôi hân hạnh hoan nghênh sự tham dự của các bạn cùng những ý kiến đóng góp. Tôi xin cảm ơn từng người trong các bạn vì sự tham dự của các bạn tới một thời đại phục hưng mới của nghệ thuật hiện thực.

Có một thực tế rằng, tôi có thể nói chúng ta đang chỉ mới bắt đầu khám phá những chủ để vĩ đại về con người, dù tinh tế hay trực diện, dù thuộc về tâm linh hay tâm lý...theo nghĩa đen hay nghĩa ẩn dụ...tiểu thuyết hay trần trụi; bên trong nội tâm hay du hành liên ngân hà. Chắc chắn rằng, thế kỉ vừa qua là một thế kỉ phức tạp cùng với sự mở rộng tâm thức và đa cảm nơi con người, và các nguyên lý của chủ nghĩa hiện đại đã giữ thế giới nghệ thuật bằng một bàn tay sắt đã hoàn toàn làm tê liệt kỷ luật của hội họa và nghệ thuật. Những thành tựu đột phá nơi tư tưởng và khoa học xuất hiện trong thế kỉ này chưa được diễn đạt bằng ngôn ngữ của hội họa hiện thực cổ điển, một thế kỉ mà sự gia tăng gấp đôi kiến thức trên toàn thế giới giảm từ 50 năm xuống còn 6 năm. Nếu như những tính toán là chính xác thì hơn 98% tri thức toàn nhân loại được tạo ra trong một thế kỉ vừa qua. Toàn bộ thế kỉ vừa qua hầu như chưa được chạm tới tất cả qua bởi những phương thức biểu đạt của chủ nghĩa hiện đại. Những nhà hiện đại chủ nghĩa nói rằng, “chẳng phải mọi thứ đã tồn tại rồi đấy sao?” Chúa ơi, có lẽ bạn phải sống trong hang động của Plato để tin vào điều đó. Chúng ta chỉ mới rất khó khắn để bắt đầu cho rằng những miền đất mới như ý nghĩa, tình cảm, kiến thức, và trải nghiệm chưa được hình thành, được khắc họa, được vẽ, miền đất mà những sức mạnh của sự biểu hiện, thi ca và kiến tạo trong con mắt của người họa sĩ một lần nữa làm giàu giá trị nhân văn cho xã hội, văn hóa, và nền văn minh với sự ngập tràn những kiệt tác từ đôi bàn tay của những Họa sư đang sống, dù họ có ở đây ngày hôm nay, hay người mới tham dự vào một trong hơn 70 họa viện của ARC.

Với sức mạnh của mạng Internet và với sự hỗ trợ từ những tổ chức như mạng lưới liên hiệp các cộng đồng họa sĩ vẽ chân dung, nên Art Renewal Center tiếp cận tới hàng triệu người trên toàn thế giới; với sự đóng góp ngày hôm này của sáu tạp chí nghệ thuật luôn đưa tin về giải thưởng ARC Salon hàng năm và hàng loạt sự phát triển quan trọng khác trong cồng đồng nghệ thuật hiện thực mà được đăng tải hàng tuần trên blog của ARC hay Weekly ARC Newsflash tới hơn mười ngàn độc giả, chúng tôi vững bước trên con đường dẫn tới sự ra đời mới của sự sáng tạo và một sự ngập tràn rộng lớn những biểu hiện cảm xúc nơi con người; một sự phục hồi bùng nổ của nghệ thuật thị giác, nhưng lần này thấm nhuần ý nghĩa thực sự của tự do biểu đạt. Đã rất lâu mà phần lớn nhân loại được phép so sánh và quyết định rằng điều gì thiết lập nên nghệ thuật chân chính, và với thi ca, điều chân thực và vẻ đẹp được dẫn dắt bởi ánh sáng, một sự tái sinh hoàn toàn của ngôn ngữ giao tiếp toàn cầu qua truyền thống hiện thực đương đại là một điều chắc chắn./.

 

---------

Dịch xong ngày 24/07/2017.

Bản dịch tiếng Việt từ bài phát biểu “Why Realism” của ông Fred Ross, nhà sáng lập và chủ tịch Art Renewal Center.

Nguồn gốc bài phát biểu: https://www.artrenewal.org/articles/Philosophy/Why_Realism/why_realism.php

©Tôi (Trịnh Nhật Vũ) giữ bản quyền bản dịch.

Khi đăng lại (toàn bộ hay trích đoạn) tôi yêu cầu độc giả dẫn nguồn và có thông báo tới tôi. Chân thành cảm ơn.