amedia

Vì sao lại là Chủ nghĩa hiện thực? (Phần 1)

10-08-2017 04:16:59


Bài viết của Frederick Ross Ngày 7 tháng 2 năm 2014, bài phát biểu quan trọng từ nhiều họa sĩ gửi tới Hiệp hội họa sĩ vẽ chân dung Connecticut.
Trịnh Nhật Vũ dịch.

AMC giới thiệu cùng các bạn (Phần 1)

Tôi muốn bày tỏ lòng cảm tạ của mình tới Jeanine và Joel và Hiệp hội họa sĩ vẽ chân dung Connecticut vì lời mời cá nhân tôi để trình bày bài diễn thuyết này ngày hôm nay. Chủ đề của buổi hội nghị này là Kiến tạo trên nền tảng Cổ điển.

Khi nghĩ về chủ đề này, những suy nghĩ tới tận cùng đưa tôi đến kết luận rằng sẽ chẳng có điều gì phù hợp hơn để hỏi và trả lời câu hỏi này: Vì sao lại là Chủ nghĩa hiện thực? Cho tới những ngày gần đây đa số các tổ chức đều tin tưởng những giá trị và tính quan trọng của Chủ nghĩa hiện thực, dù ở cả địa hạt cổ điển hay đương đại; nhưng Vì sao lại là Chủ nghĩa hiện thực? Tại sao, sau một thế kỉ của sự thóa mạ, đàn áp và gần như đã ngấp nghé ngưỡng cửa hủy diệt, khi những tín điều được dạy ở gần như hầu hết tất cả các trường trung học, cao đẳng và đại học trong hơn một trăm năm qua, đều coi Chủ nghĩa hiện thực là một sự sao chép? Sau tất cả thì, tất cả những họa sĩ hiện thực làm chỉ là sao chép từ tự nhiên. Chủ nghĩa hiện thực, dư luận đó nói rằng chủ nghĩa này chẳng có gì sành điệu. Đa số người thưởng ngoạn đều có thể luận bàn về điều gì đang được mô tả trong một bức tranh hay một tác phẩm điêu khắc theo chủ nghĩa hiện thực. Nó thật là dễ dàng để hiểu. Nó chẳng sáng tạo gì cả; việc tạo lại các thù hình và ý tưởng mà không được tìm thấy trong tự nhiên mới đủ đặc quyền để thể hiện sự độc đáo của nghệ thuật. Vậy nên câu hỏi ngày hôm nay cho hiệp hội, và cho các họa sĩ hiện thực, một câu hỏi có thể khiến họa sĩ trăn trở hàng tháng, năm hay thậm chí cả đời, đó là: Vì sao lại là Chủ nghĩa hiện thực?

Câu trả lời của tôi hoàn toàn trực tiếp, giản dị và nên được coi là điều hiển nhiên: Nghệ thuật thị giác từ những bức vẽ, tác phẩm hội họa, và tác phẩm điêu khắc được cảm thụ, thấu hiểu rõ nhất và luôn là một dạng ngôn ngữ; ngôn ngữ của hình ảnh. Chủ nghĩa hiện thực được phát triển và giữ gìn ngay từ thuở sơ khai và tiếp sau này với giá trị của một phương tiện giao tiếp, như là nói và viết. Và cũng như nghĩa vụ của ngôn ngữ, nó được công nhận nếu sự giao tiếp đó có giá trị và sẽ không được công nhận nếu nó không có khả năng giao tiếp. Câu trả lời này tương đồng với định nghĩa cho thuật ngữ “Nghệ thuật”. Vậy đó, nghệ thuật là một cách con người có thể giao tiếp.

Và có cách nào mà con người có thể giao tiếp với nhau nếu chẳng phải bởi một ngôn ngữ mà người lắng nghe có thể hiểu được? Nếu như sự giao tiếp là mục đích chính thì ngôn ngữ của chúng ta phải có một hệ từ vựng và ngữ pháp mà cả người nói và người nghe đều đồng thuận. Nếu bạn nghĩ sâu xa một chút về điều này thì hình thái nguyên thủy của chữ viết là dựa trên những hình vẽ đơn sơ về một sự vật thật để mô tả sự vật đó. Điều đó khiến nguồn gốc của chữ viết trùng lặp một cách hết sức gần gũi với nguồn gốc của nghệ thuật. Không có những ngôn ngữ thông dụng, không một sự giao tiếp và hiểu biết nào có thể tồn tại, và điều này hiển nhiên đúng đối với nghệ thuật. Nghệ thuật đồng thời phải giao tiếp một cách gần gũi như ngôn ngữ nói và viết, đó là một khả năng ơn phước cho riêng loài người để con người có thể miêu tả lại thế giới mà anh/cô ta đang sống và lưu tồn lại những cung bậc cảm xúc về mọi thần sắc của cuộc sống và cuộc đời. Với chức năng là một dạng ngôn ngữ, nghệ thuật chia sẻ những khả năng tương tự như tiếng nói và chữ viết. Đó là tiềm năng để biểu lộ vô hạn những giá trị to lớn của ý chí loài người, tư tưởng, đức tin, những giá trị và đặc biệt là những điều tồn tại mạnh mẽ nơi con người người như cảm xúc, khát vọng, giấc mơ và những mộng tưởng; và tẩ cả những câu chuyện muôn màu và vô hạn nơi loài người.

Bảng từ vựng của nghệ thuật không gì ngoài những hình ảnh hiện thực mà chúng ta chiêm ngưỡng mọi nơi qua đời sống thường nhật, và ngữ pháp của nghệ thuật chính là những lề luật và xảo thuật cần thiết để tạo nên những hình ảnh chân thực và sống động. Dưới đây là một vài lề luật về gắn liền với những đối tượng thật hay còn gọi là bảng từ vựng của ngôn ngữ thị giác trong nghệ thuật: tìm những đường contours; xây dựng cấu hình; điều khiển sơn vẽ để tạo bóng tối và ánh sáng với cách kĩ thuật láng màu và day màu khiến cho vật thể nổi lên qua nhiều lớp sắc màu; thuật tạo điểm tập trung có chọn lựa; luật xa gần; kéo dài không gian; cân bằng bố cục; cân bằng sắc thái nóng-lạnh của màu sắc; buông hình hoặc rõ hình đối với hình dạng và đường nét.

Hãy chú tâm tới một sự thật hiển nhiên này: Ngay cả tới những điều không thực sự thực tế như những giấc mơ hay mộng tưởng, những câu chuyện tiểu thuyết của chúng ta...những điều không có trong thực tế...đều được biểu lộ trong tâm trí và tiềm thức đề đượ xây dựng từ những hình ảnh thật. Xin hãy cân nhắc điều này, ngay cả trong giấc mơ và mộng tưởng chỉ tồn tại những hình ảnh từ hiện thực...và chúng trong không giống Nghệ thuật Hiện đại một chút nào. Vì thế những bức tranh trừu tượng không phản ảnh tiềm thức của tâm trí. Những giấc mơ và mộng tưởng được xây dựng từ hình ảnh đó và những tác phẩm có thể được tạo tác tương tự, nhưng chỉ bằng cách sử dụng hình ảnh từ hiện thực và tập hợp chúng bằng những cách mà tạo cảm giác như mộng tưởng và giấc mơ.

Vâng, và chúng ta đã có câu trả lời, đó chính là ý niệm cốt lõi giải thích rằng nghệ thuật là gì. Nó là một ngôn ngữ hình ảnh có khả năng bộc lộ muôn vàn vô hạn những ý niệm và tư tưởng, như những điều được bộc lộ qua những áng văn chương và thi ca bất hủ. Mặc dù vậy, không như hàng trăm ngôn ngữ nói và viết, cách thức biểu đạt của nghệ thuật hiện thực cổ điển có điều bí ẩn khiến nó độc nhất một cách rất đặc biệt...ngôn ngữ của nghệ thuật hiện thực cổ điển phá tan những rào cản bất đồng ngôn ngữ và gần như toàn bộ con người muôn nơi trên thế giới đều có thể hiểu được cho dù họ có dùng ngôn ngữ và chữ viết khác nhau như thế nào. Như thế đó, Nghệ thuật hiện thực là một dạng ngôn ngữ hoàn vũ điều cho phép kết nối tất cả mọi người thậm chí xuyên qua cả những phạm trù bí ẩn nhất của thời gian: quá khứ...hiện tại...tương lai. Nghệ thuật hiện đại và nghệ thuật trừu tượng không phải là một dạng ngôn ngữ. Chúng đối lập với ngôn ngữ vì chúng thể hiện sự thiếu vắng của ngôn ngữ. Và sự thiếu vắng của ngôn ngữ đồng nghĩa với thiếu vắng sự giao tiếp. Chúng lấy đi từ nhân loại một đặc tính có lẽ là quan trọng nhất...đặc tính khiến chúng ta là con người...chính là khả năng giao tiếp tới những tầng ý niệm sâu sắc, tỉ mỉ và tinh tế. Trong lãnh vực nghệ thuật, chủ nghĩa hiện đại đã trục xuất sự tồn tại của một ngôn ngữ hoàn vũ...Chủ nghĩa hiện thực yêu cầu những kĩ thuật và xảo thuật để tạo nên ngôn ngữ hoàn vũ đó. Đó là dạng tri thức đã lớn mạnh, phát triển, được ghi chú và bảo vệ cẩn trọng trong hàng thế kỉ từ những bậc họa sư cho tới những thế hệ kế nhiệm.

Nếu một sự thật cần được phơi bày, Nghệ thuật trừu tượng thậm chí còn chẳng có nổi tính trừu tượng. Quá trình sử dụng thuật ngữ “trừu tượng”, một thuật ngữ ảnh hưởng tới Nghệ thuật hiện đại mạnh nhất, thực ra lại là một hành động chiếm đoạt ý nghĩa thực của từ “trừu tượng”, thậm chí mang nghĩa đối nghịch với từ “trừu tượng” nguyên gốc. Trong thực tế, ngôn ngữ sử dụng quá trình trừu tượng hóa để tạo nên những biểu tượng nhằm hàm nghĩa một ý niệm khác. Chỉ loài người mới có khả năng dùng những ý tưởng trừu tượng và những ý tưởng đó không giống những hình ảnh mà Jackson Pollack hay William De Kooning tạo ra. Hãy cho phép tôi giải thích điều này một chút: Cái từ “paper” định nghĩa về vật mà tôi đang cầm trên tay đây. Từ “paper” được viết bới những chữ cái “p-a-p-e-r” là một dạng trừu tượng nữa của từ được phát âm ra là “paper”. Nếu tôi vẽ một bức tranh mà trong đó một người đàn ông đang đứng đọc một mảnh giấy, tôi đã sử dụng ngôn từ của chủ nghĩa hiện thực cổ điển (hình ảnh) để tạo nên một dạng khác của sự trừu tượng, hình ảnh này ngay lập tức được nhận ra bởi một người Anh với từ “paper”, một người Pháp với từ “papier”, một người Hungary với từ “papir”, hoặc một người Latvia với từ “papira”.

"Excavation",1950 by Willem de Kooning

Cho tới khi chúng ta hiểu rằng nghệ thuật là một dạng ngôn ngữ bằng hình ảnh, và quá trình tạo tác lên tác phẩm nghệ thuật thực sự là một sự trừu tượng hóa, sau đó phủ nhận nghệ thuật trên nền tảng của sự mô tả hoặc khả năng kể chuyện của nó là một điều thực sự vô nghĩa. Thế vậy mà, những nhà sư phạm hiện đại giảng dạy cho sinh viên rẳng chủ nghĩa hiện thực chẳng có giá trị gì hơn là kể chuyện, và họ luôn nhạo báng như vậy. So sánh với văn học, điều này tương đương với việc những nhà hiện đại sẽ phủ nhận bất cứ điều gì được viết ra nếu nghệ thuật muốn kể một câu chuyện, hoặc biểu lộ một cảm xúc, ý tưởng, đức tin, một ý nghĩ, hay bất cứ ý nghĩa nào mà một từ ngữ đem lại.

Những nhà hiện đại dạy chúng ta rằng, đó là một sự lừa dối nếu tạo nên một hình ảnh ảo giác 3 chiều trong một tác phẩm nghệ thuật. Một bức tranh thực sự là một mặt phẳng và Cezanne có được danh vọng nhờ khám phá ra sự thật đó, đưa chúng ta tới sự thật gần hơn bằng cách san phẳng phong cảnh. Mattisse làm sụp đổ những ngôi nhà và gia đình của chúng ta và Pollack cùng DeKooning đem tất cả những điều còn lại bỏ vào máy xay sinh tố rồi sau đó vung vãi, nhỏ nước thậm chí tát cả mảng sơn trên một diện tích những hình hài và màu sắc nhiễu loạn vô tổ chức. Vâng, những điều mà chúng ta được bảo này là minh chứng cho một sự thật...rằng một tấm toan vẽ là phẳng. Phải, tin tốt là...bất cứ một đứa trẻ 3 tuổi nào được đưa tới bảo tàng tham quan đều biết rằng những tấm toan vẽ là phẳng. Và rồi những vị họa sĩ này, sau khi đã chứng mình tấm toan vẽ là phẳng, họ đã tiếp tục dành phần sự nghiệp còn lại của mình để chứng mình điều đó hết lần này đến lần khác. Thế nhưng, điều đáng chú ý từ những tuyên ngôn, trình bày hoặc để ý tới những điều đó là gì? Chứng minh thực tế rõ ràng này nên được thực hiện thì sẽ tốt hơn bằng cách chỉ nói suông. Nhưng chẳng phải là tuyệt hảo hơn sao khi nói bầu trời thì xanh, lửa thì nóng, hoặc nước thì ướt (So với chuyện tấm toan vẽ là phẳng). Khi so sánh tương đương điều ngớ ngẩn này trong ngôn ngữ viết, ta có thể nói rằng mọi điều đươc viết nên đều chẳng có ý nghĩa gì vì trên mặt giấy chỉ tồn tại những hình dạng khác nhau của các nét thẳng và các nét cong hay những đường nét xuẩn ngốc. Và từ khi cái việc này gần sự thật hơn so với việc đặt ý nghĩa cho những dòng trên...so với việc dùng nó để tạo nên từ ngữ và từ ngữ hình thành những ý tưởng...đó là một điều dối trá. Vì vậy, để có một sự so sánh hoàn hảo, ta thử nghĩ về điều sau...cuốn sách vĩ đại nhất để mô tả “sự thật” này (sự thật theo cách nghĩ của các nhà hiện đại) bao gồm hết trang giấy này tới trang giấy khác được lấp đầy bởi những hình dạng và những đường nét vô nghĩa ngu ngốc...Vâng, và cái định nghĩa thâm thúy về sự thật của các nhà hiện đại là thế đó. Sẽ có bao nhiêu cuốn sách và tập thơ được đón nhận và được thưởng thức nếu như chứa đựng trong đó chỉ toàn những hình dạng vô nghĩa qua từng trang giấy?

"One: Number 31", 1950 by Jackson Pollock

Vậy thì, khi đó, cái gì sẽ là nghệ thuật hội họa/điêu khắc, cái gì là nghệ thuật văn chương/thi ca, cái gì sẽ là nghệ thuật âm nhạc/kịch nghệ? Trong mỗi thể loại nghệ thuật, con người sử dụng những nguyên liệu khác nhau có được từ thiên nhiên (như đất và màu sắc hay những chuyển động và âm thanh của cuộc sống) và kết hợp và tổng hòa đầy sáng tạo những nguyên liệu đó để tạo ra một điều gì khác mà có khả năng truyền tải và mang thông điệp. Trong suốt tiến trình lịch sử của mình, con người đã tìm ra vô vàn những phương thức để truyền đạt những ý nghĩ, tư tưởng, đức tin, giá trị và muôn vàn những kinh nghiệm từ đời sống. Nhưng khi đặt chân tới lãnh địa của nghệ thuật thị giác, các nhà hiện đại sẽ nói rằng” tại sao lại phí phạm thời gian để thực hành chủ nghĩa hiện thực?” Vậy thì có khác nào nói rằng “Tại sao lại phung phí thời gian để viết bất cứ điều gì? Tất cả mọi thứ đều đã được viết rồi mà. Còn gì nữa đâu mà viết.”

Chủ nghĩa hiện thực đã bị bôi nhọ không ngừng nghỉ vì chẳng đem lại giá trị nào hơn là minh họa, nói như thể minh họa là một từ ngữ bẩn thỉu. Vậy có cai trong số các quý vị ngồi đây nói rằng bức vẽ của Michalangelo ở Nhà nguyện Sistine là một bức hình minh họa không? Xét cho cùng, Michelangelo minh họa Kinh thánh. Sự thật là, minh họa là một từ khác của từ kể chuyện. Liệu chúng ta có phủ nhận ngôn ngữ viết vì vai trò của nó là kể một câu chuyện không? Dĩ nhiên là không rồi. Điều chúng ta có thể nhìn nhận ra là có những câu chuyện hay và có những câu chuyện dở, có người viết hay và có người viết dở,hoặc rườm rà hoặc hùng biện. Tương tự, có những tác phẩm nghệ thuật tồi, có tác phẩm tầm thường, có tác phẩm tốt, có tác phẩm vĩ đại và hiếm hoi có những tuyệt tác. Chúng ta có thể không đồng tình hoàn toàn về mặt thời gian, nhưng phần lớn mọi người đều có thể trực giác cảm nhận được những giá trị nơi Vermeer, Rembrandt, Caravaggio, Alm-Tadema hay William Bouguereau. Và nếu như không bị tẩy não, khán giả có khả năng nhìn rất rõ một sự thật không thể chối cãi của một tấm toan vẽ với một đống màu lộn xộn trên đó, rằng đó là thứ hầu như chẳng cần tới một kĩ năng thể hiện nào cả và gần như chẳng có chút giá trị nào cả về khả năng giao tiếp.

"Người góa phụ Ai Cập", 04/1872, sơn dầu trên bảng, 74.9 × 99.1 cm, Lawrence Alma-Tadema, Bảo tàng Rijksmuseum Amsterdam, Hà Lan

Chủ nghĩa hiện đại cần phủ “nhận tất cả những giá trị của Chủ nghĩa cổ điển bởi chúng gần như phủ nhận tất cả mọi thứ. Bạn hãy thử thống kê xem có bao nhiêu tác phẩm hiện đại được đặt tên với từ “Vô đề”? Vô đề 1, Vô đề 33, Vô đề tới phát ngấy. Họ gắn mác “Vô đề” như thể đó là huân chương danh dự. Qua hành động đó, họ nói với chúng ta và các chuyên gia rằng: “Hãy nhìn xem, tôi rất cẩn thận không nhồi nhét trên cái đống mà tôi “tạo tác” ở toan vẽ bất kì ý tưởng nào cả!”

“Kể chuyện” đã bị đối xử là một từ hạ đẳng trong thế giới Nghệ thuật. “Kể chuyện” đã bị hạ thấp chỉ là “minh họa” và bản thân từ “minh họa” bị hạ xuống lần nữa với nghĩa “nghệ thuật thị trường”, Bạn hãy tới đăng kí nhập học tại bất cứ khoa nghệ thuật nào ở bất cứ trường cao đẳng hay đại học ở Mỹ và nói với những vị cán bộ điều hành nơi đó rằng bạn muốn vẽ những khung cảnh giai thoại, lịch sử, những bức tranh biểu tượng, hay chỉ đơn thuần là khung cảnh cuộc sống thường nhật...bất cứ điều gì có khả năng biểu lộ hay hình tượng hóa chủ đề đầy năng lượng về con người. Bạn nghĩ điều gì sẽ xảy ra? Sau khi nhìn bạn qua đầu mũi của họ, thử nghĩ tới cách nói với bạn điều mà họ muốn mà tránh sỉ nhục bạn quá liều, họ sẽ thật lịch sự và nói với bạn điều này: “Ồ anh bạn thân mến, bạn nên thử tới đăng kí tại các phân khoa như đồ họa hay tìm một trường nghệ thuật thị trường nào đó, hay tới trường chuyên kinh doanh cũng được; ở đây chúng tôi có lẽ không lưu tâm tới cảm hứng nghệ thuật đó ở bạn.” Họ sẽ nói với bạn rằng, “kể chuyện” không phải là cái họ làm. Điều đó chẳng đem tới cho họ chút hấp dẫn nào cả. Điều đó không vị nghệ thuật. Điều đó chẳng có gì “liên quan”.

Vậy điều gì thì phù hợp với những nhà hiện đại và những triết thuyết hậu hiện đại? Những vấn đề nào thì “liên quan”? Họ sẽ nói với bạn rằng: “Hình dáng vị chính nó”...”màu sắc vị chính nó”.... “Đường nét cũng vị chính nó.” Và đó là nghệ thuật đấy. Chẳng có điều gì mà nghệ thuật nên truyền đạt và biểu hiện ở đây. Họ nói rằng họ sẽ hướng dẫn bạn cách nhìn khác đi. Nhưng chúng ta có thể nhìn thấy rõ rằng điều gì tồn tại hoặc còn hơn thế nữa và điều gì chẳng mảy may tồn tại.

Trong thế giới quan của họ, những mánh lới mang tính trừu tượng và tối giản có giá trị xứng đáng xa hơn nhiều so với việc tái tạo lại một khung cảnh từ đời sống chân thật, hoặc ừ những mộng ước, những huyền thoại và thần tích; thậm chí nghệ thuật hiện đại đó còn tinh tế và sâu sắc hơn những biểu tượng thể hiện niềm ước vọng, những giấc mơ, và những phút giây hùng tráng nhất trong đời người. Nhiều tấm toan trống vắng, những căn phòng trống không, một đống sỏi đá thì quan trọng hơn đối với bọn họ và xa hơn nữa, vấn đề thì quan trọng hơn là khoảnh khắc của đời sống, điều đã mô tả và định hình nên giá trị phổ quát của nhân loại. Các ô vuông sặc sỡ có được địa vị cao hơn những sắc thái nơi con người; những lớp chất liệu từ giấy đánh gục muôn vẻ tầng lớp đời sống. Việc vung vẩy màu sơn còn hấp dẫn hơn việc một đứa trẻ học cách dê dắt với quả bóng rổ. Đầy rẫy rác rưởi được bọc trong túi còn được coi tinh hoa hơn việc nhìn thấy sự chuyển đổi tâm lý từ một người thanh thiếu niên tới một người đàn ông trưởng thành. Và một tí ánh sáng nhấp nháy trong một căn phòng rỗng hấp dẫn được cơn thèm khát của báo chí trong khi đó, sự ẩn hiện chớp mắt của cuộc đời và của thời gian thì không đáng để nảy nở những xúc cảm. Đó thực sự là những luân lý vô minh của những kẻ tự coi mình là hoàn hảo, những kẻ nắm trong tay bảo tàng và học viện của chúng ta trong hơn một trăm năm qua với sự kiềm tỏa vô nghĩa. Họ làm nghèo nàn nội tâm và tuổi trẻ của chúng ta một cách có hệ thống, khi các kĩ năng tinh tế bị chế nhạo và tài năng thì bị tảng lờ và bị dìm chết. Các bậc thầy cho tới gần đây đang chết dần chết mòn khi không thể đào tạo một thế hệ kế tục để gìn giữ, bảo tồn và kéo dài những giá trị đã được bảo tồn liên tục hàng thế kỉ qua.

Vâng, tôi thật phấn khích khi nói rằng đang có một thế hệ như vậy, và thế hệ đó chính là tất cả chúng ta. Chúng ta đều là một phần của công cuộc này. Và những họa sĩ hiện thực ngày hôm nay không gì khác hơn chính là những đấng nam thần, nữ thần của nền văn hóa. Tất cả chúng ta đều có một vai trò trong việc bảo tồn và phát triển tốt hơn một trong những thành tựu vĩ đại nhất của loài người: Nghệ thuật. Chỉ cách đây ba thập niên thôi, gần như chẳng có ai còn tồn tại những điều mà chúng ta đang tin tưởng. Nhưng trong một thập niên vừa qua, chúng ta đặc biệt trông thấy sự bùng nổ cả về kích thước và chất lượng của nhiều phong trào hiện thực. Từ những cá nhân nhỏ giọt, cho tới nay, chúng ta đang chứng kiến một dòng thác lũ hơn chục ngàn người, thậm chí tới hàng trăm ngàn con người đang cống hiến để hồi sinh sự vĩ đại của chủ nghĩa hiện thực, điều mà đã bị lãng quên cùng khả năng diễn giải và biểu đạt ý tưởng hơn 100 năm trước (thế kỉ 19), một thế kỉ có lẽ là quan trọng bậc nhất trong lịch sử loài người. Rất nhiều họa sĩ ngày hôm nay một lần nữa nhìn lại những thành tựu và sự vĩ đại của nghệ thuật trong quá khứ, và một lần nữa cố gắng tiếp tục kiến tạo trên nền tảng còn lưu lại trong thời khắc mà chúng ta tiến vào thế kỉ 21. 

"Kẻ lữ hành ngắm nhìn bể sương khói", 1818, sơn dầu trên vải, 98.4 cm × 74.8 cm, Caspar David Friedrich, bảo tàng Kunsthalle Hamburg, Đức

Chủ nghĩa hiện đại đã đạt được độc quyền ảo trong suốt thế kỉ qua với sự điều khiển không khác nào sức mạnh của cơ quan chính phủ hoặc một ủy ban cấp phép. Các thể chế văn hóa đầy quyền lực đã cấm gần như toàn bộ những tác phẩm được tạo tác bởi những họa sĩ hiện thực đang còn sống. Họ đã kiểm soát và gần như vẫn điều khiển mọi bảo tàng và mọi khoa nghệ thuật ở hầu hết các trường cao đẳng và đại học ở thế giới phương Tây. Hầu như tất cả các nhà phê bình lý luận nghệ thuật tại các tòa báo và tạp chí đều phô bày một sự thiên vị tiêu cực. Tất cả các nhà giáo nghệ thuật và các khóa học nghệ thuật ở mọi trình độ từ bậc mẫu giáo cho tới bậc đại học đều không nằm ngoài sự kiểm soát này. Chủ nghĩa hiện đại đã áp đảo thậm chí cả những trường cao đẳng nghệ thuật tập trung như Cooper’s Union, Pratt và Trường Thiết kế Đảo Rhode.

Dù xoay mọi hướng để tìm kiếm, bạn không thể tìm được bất cứ khóa học nào liên quan tới việc truyền dạy những kĩ năng của Chủ nghĩa hiện thực cổ điển. Những hội nhóm của các họa sĩ cũng đi xa và những họa viện chất lượng cũng biến mất tăm. Chúng ta chỉ có thể tìm thấy một chuỗi hiếm hoi nơi truyền dạy các kỹ thuật đã được sử dụng gần như ở khắp mọi nơi cho đến đầu thế kỷ 20. Ồ, chắc chắn rồi, phần lớn các khoa nghệ thuật đều dạy cách vẽ cho có lệ và cũng thường bao yêu cầu một lớp học vẽ như là một điều kiện cần có để được trao bằng trong hệ thống giáo dục Nghệ thuật. Nhưng gần như phần lớn các khóa học này đều được hoạt động bởi một nhà giáo nghệ thuật, người mà không thể vẽ cho ra hồn. Và có một sự thật của ngày hôm nay giống y chang một trăm năm trước hay cả ngàn năm trước: “ Ngươi không thể truyền dạy điều mà bản thân ngươi không làm được cho mình.”

Những nơi được-gọi-là lớp vẽ này thường tập trung vào các bài vẽ mẫu ngắn 5 phút với mục đích yêu cầu sinh viên học cách bắt dáng thật nhanh thay vì vẽ thật đúng. Những bức vẽ đẹp và trông thấy được kinh nghiệm và nỗ lực của người vẽ thì vắng bóng, thay vào đó là những hình vẽ bị quá sức và bao gồm quá nhiều đường nét. Để học vẽ được còn yêu cầu những buổi vẽ dáng trong thời gian dài; đủ dài cho sinh viên học cách tìm được đường nét đúng nhất để mô tả đường contour; những đường contour thanh và đậm tồn tại trên mẫu; những đường viền mà tạo nên cảm giác xa gần và nổi khối. Chỉ ở những bài luyện tập từ các họa viện cổ điển mới có thể hoàn thành những điều cần thiết cho họa sĩ để thổi hồn cho những ý tưởng sáng tạo của anh/cô ta.

Đó là lý do tại sao ngay cả khi chủ nghĩa hiện thực đang bước vào thời phục hưng tiếp theo của nó, chúng ta không thể đơn giản bỏ qua cơ sở nghệ thuật hiện đại và chúng ta phải tiếp tục luận bàn. Như quý vị đã biết, tôi là chủ tịch và người sáng lập tổ chức ARC. A.R.C được viết tắt cho “the Art Renewal Center”. The Art Renewal Center được thành lập năm 1999 và chúng tôi đã không hoạt động website cho tới tháng 11 năm 2000. Chúng tôi đã chờ đợi cho tới khi thu thập được hình ảnh của hơn 15.000 tác phẩm vĩ đại nhất của lịch sử nghệ thuật để giới thiệu tới công chúng. Ngày hôm này, bộ sưu tập hình ảnh đã có trên 80.000 tác phẩm và phần lớn trong số đó được lưu trữ ở chất lượng cao dành cho việc học tập và nghiên cứu. Mục tiêu đầu tiên của chúng tôi là đưa tới thế giới nghệ thuật và những người yêu nghệ thuật một góc nhìn đối lập có trách nhiệm phản đối lại với những tuyên ngôn của chủ nghĩa hiện đại Nhưng cho tới năm 2002, chúng tôi đã nhận được rất nhiều yêu cầu từ những người quan tâm hỏi về nơi mà họ có thể học những phương pháp của bậc thầy cổ điển. Chúng tôi bắt đầu tìm kiếm mọi ngõ ngách ở thế giới phương Tây những nơi vẫn duy trì phương pháp giảng dạy cổ điển và được truyền dạy bởi những vị thầy mà bản thân họ đã được đào tạo từ họa viện. Năm 2003, chúng tôi chỉ tìm được có 14 trường như vậy và tất cả đều rất nhỏ, mỗi lớp chỉ bao gồm từ 5 cho tới 15 sinh viên. Vậy đó, dưới 200 sinh viên, ở tất cả các họa viện hợp lại, được đào tạo bằng những phương pháp cổ điển. Sau đó chúng tôi cập nhật trên website ARC một danh sách những họa viện như vậy : ARC Approved Atelier Schools. Và sự phản hồi là không thể tưởng tượng nổi. Chỉ trong 18 tháng, tất cả 14 họa viện đều nhận được tối đa sinh viên mà họa viện có thể nhận và ngay lập tức họ đã lên kế hoạch để mở rộng quy mô của họa viện. Ngày hôm nay, trên toàn thế giới đã có hơn 70 họa viện ARC được kiểm chứng; trường họa và đại học với những giáo trình được chọn lọc cùng hàng ngàn sinh viên...đã tăng hơn 2000% chỉ trong 10 năm.

Chúng ta vô cùng may mắn được nói chuyện cùng nhau tại thời điểm của một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất trong lịch sử nghệ thuật. Rất hiếm khi người ta có cơ hội sống qua những thay đổi văn hóa quan trọng tại các tầng kiến tạo văn hoá sâu thẳm nhất. Chúng ta, cộng đồng nghệ thuật hiện thực, đang mang lại một sự thay đổi trên toàn thế giới về nhận thức và định nghĩa của những gì tạo nên một nền nghệ thuật thực thụ. Những cố gắng của nhóm chủ nghĩa hiện đại để khiến chúng im lặng đã thất bại. Mỉa mai thay, với sự hỗ trợ từ công nghệ hiện đại nhất hiện nay, mạng internet, sự thật đang được hiển hiện khắp các ngõ ngách thế giới. Rất nhiều sinh viên mỹ thuật tại các trường ARC đã chia sẻ với chúng tôi rằng, họ đã lãng phí nhiều năm và nhiều tiền cho những khoa nghệ thuật. Các thể chế của thế giới nghệ thuật phải thay đổi hoặc biến mất. Một thế kỉ vừa qua là thế kỉ của mù quáng, cơn ác mộng sai lạc, và đầu óc tê liệt trong khái niệm “vị nghệ thuật”, của sự gia tăng những điều đáng ra cần phải đào thải lâu rồi . Tính chính đáng trong những phát ngôn của các nhà hiện đại học cuối cùng cũng truy vấn lại.

Cùng với nhau, tất cả chúng ta hôm nay đang nhặt lên cây đuốc đã bị đánh rơi từ lâu. Công việc chúng ta phải làm trong thời đại này là cải tổ và khôi phục lại các phương pháp đào tạo thích hợp trên toàn bộ cơ sở hạ tầng đang có. Sẽ không đủ nếu chúng ta chỉ dừng lại ở việc tạo nên các tác phẩm xuất sắc, chúng ta cần bán và tạo thị trường cho những tác phẩm này. Chúng ta cần lấy lại hoặc chí ít tồn tại bình đẳng với các bào tàng chính, nơi có một vị trí cần thiết để giáo dục công chúng rằng những hiện vật nghệ thuật từ quá khứ và hiện tại xứng đáng được tôn vinh là điều quý giá nhất bởi xã hội và nền văn hóa. Thế kỉ 20 quả thực là một sự tàn phá nặng nề đối với nghệ thuật thị giác nên nguồn cung-cầu, vốn đã bị thu hẹp nhiều, cho những tác phẩm làm hài lòng khán giả và có ý nghĩa, đã bùng nổ mạnh mẽ trong xã hội, và đó là tiền đề của sự hồi sinh chủ nghĩa hiện thực cổ điển, Chúng ta chỉ đang ở những bước đầu tiên của phong trào này. Chủ nghĩa hiện thực Hiện đại chỉ mới bắt đầu khẳng định giá trị và tầm quan trọng của nó. Những họa sĩ hiện thực đang xuất hiện, dù họ đang là những người ở vị trí khai quật lại những giá trị đã bị mất, và chính những giá trị này là bệ đỡ cho những tác phẩm vĩ đại đợi để xuất hiện khi thế kỉ 21 đang được kiến tạo.

Vậy nên ngay bây giờ, trong vị trí một sử gia nghệ thuật, họa sĩ, người sưu tập, chúng ta cần phải hỏi rằng điều gì đã xảy ra và còn điều gì mà chúng ta cần phải biết về quá khử, không chỉ dừng lại ở việc giương lên ngọn đuốc khai sáng và đi tới mà còn là sự thấu hiểu lịch sử nghệ thuật, và đem lại ý nghĩa cho những điều đã đã xảy ra. Từ đó, những thế hệ họa sĩ mới sẽ có một nền tảng vững chắc dựa trên sự thật, những thành tựu chân thực, và tiềm năng mạnh mẽ của nghệ thuật, những điều mà đặt nền móng cho tâm hồn con người và những điều mong muốn, cần thiết của con người để giao tiếp với nhau bằng hình ảnh, điều mà nghệ thuật chân thực được trang bị một cách độc nhất. Chúng ta cần phải tiếp tục viết lại lịch sử nghệ thuật của 150 năm trước. Chúng ta phải đưa sự thật vào các cuốn sách được dùng để giáo dục thế hệ trẻ. Chúng ta phải dạy các giá trị chân chính, sức mạnh và vẻ đẹp của ngôn ngữ thị giác hiện thực.

"Chân dung Jean-Jacques Rousseau", nửa sau thế kỉ 18, phấn màu trên giấy, 45 × 35.5 cm, Maurice Quentin de La Tour

Vậy nên ta hãy nhìn thật sâu sắc vào những điều đã xảy ra. Tác gia Jean-Jacques Rousseau đã nói “Người ta sinh ra tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích.” Hãy thay thế từ “họa sĩ” cho “con người” và chúng ta có một bản tuyên bố mô tả chính xác trạng thái của thế giới nghệ thuật qua hầu hết thế kỷ trước. “ Họa sĩ được sinh ra trong tự do nhưng mọi nơi họa sĩ đặt chân tới đều là xiềng xích” Người họa sĩ dường như đã bị (nếu không muốn nói là thực sự bị) cầm tù; cho dù chúng ta nói về các ràng buộc cưỡng ép của thuật ngữ “nghệ thuật ý niệm”, hay sự phiền phức của “sự giải cấu trúc”, tới “gông cùm của những cú sốc”, hay bị sa vào vũng bùn của “chủ nghĩa tối giản”, thậm chí những điều bần hàn, kể lể và vô trí tuệ của những tác phẩm được gọi là “trừu tượng”. Những sợi xích trên được rèn đúc từng khúc một, nói đãi bôi tới yếu tố bố cục và thiết kế, và trong một thời gian dài chúng bỏ hoang tất cả các thước đo về nghệ thuật thực thụ; nhưng đặc biệt nó xóa bỏ sự cần thiết tối thượng trong việc hài hòa sự vật và đề tài trong bức vẽ, khả năng tạo khối, hiệu ứng xa gần, màu sắc, tông, và khả năng điều khiển sơn một cách thuần thục. Va những sự vật và đề tài đó là gì vậy? Tôi xin được nhắc lại...sự vật và đề tài đó là phương thức mà người họa sĩ dùng để giao tiếp những ý tưởng, giá trị, đức tin và vô hạn những suy tư và tình cảm của con người.

Nếu quan sát thật kĩ lưỡng, chúng ta có thể thấy rằng phần lớn một thế kỉ đã qua, đã và đang có một sự tồn tại một nỗ lực để để làm xấu đi và làm suy giảm danh tiếng và tác phẩm nghệ thuật được sáng tác trong thời kỳ Victoria và các phong trào tương tự ở châu Âu và Mỹ. Sadly they were very successful. Nhưng trong 30 năm gần đây, mọi thứ đã bắt đầu thay đổi. Tôi nghĩ răng năm 1980, khi bảo tàng Metropolitan đã lấy ra một vài bức tranh cổ điển tốt nhất, những bức được lưu trữ từ Thế Chiến I, và trưng bày sảnh đường Adre Meyer và tuyên bố quyết định của họ với thế giới. Hilton Kramer của tờ NY Times đã dẫn đầu một cuộc tấn công báo chí nhằm cáo buộc bảo tàng đem những “xác chết” từ tầng hầm ra để trưng bày và lên “cào cấu” bảo tàng vì họ dám treo tác phẩm của William Bouguereau và Jean Leon Gerome bên cạnh Goya và Manet. Cá nhân tôi còn cảm thấy bị xúc phạm hơn nhiều vì lời nhận xét của Kramer so với nỗi bức xúc của ông ta với việc bảo tàng đã làm, và sau khi thất bại khi yêu cầu họ công bố quan điểm của tôi, tôi phải trả phí để có khoảng không trên tờ Sunday NY Times Arts and Leisure để bài viết của tôi có được xuất hiện để công chúng có thể nghe thấy một lời phản bác công tâm. Bài viết được đăng hai lần và tôi nhận được hàng tá những thư từ ủng hộ, bao gồm thư từ Thomas Wolfe, người có niềm tin đồng cảm và đã được trình bày một cách miệt mài trong cuốn sách huyền thoại của ông mang tên “The Painted Word”. May mắn thay, bào tàng Metropolitan đã giữ chặt tay súng và ngày hôm nay khu vực đó (khu vực lưu trữ và trưng bày các tác phẩm cổ điển) đã được mở rộng đáng kể, chưa nói tới không ít những kiệt tác được bảo quản trong kho tàng được canh giữ cẩn mật.

Trong ba thập niên qua, tôi và các sử gia nghệ thuật đã miệt mài nghiên cứu và đã tìm ra những bằng chứng áp đảo chứng minh rằng những miêu tả của các nhà hiện đại học về kỉ nguyên này là những lời nói dối và làm méo mó một cách có hệ thống nhằm phỉ báng tất cả những nghệ thuật truyền thống cổ điển được sáng tạo trong những năm 1850 tới 1920. Tiểu thuyết “Kiệt tác” của Emile Zola là một câu chuyện về những họa sĩ ấn tượng đã bị ngược đãi bởi những viên chức Paris Salon, nơi được điều hành bởi những bậc thầy cổ điển tại thời điểm đó. Đây hoàn toàn là một câu chuyện bịa đặt và bất ngờ thay, nó đã bắt đầu được viết trong những văn bản lịch sử nghệ thuật như thể nó xảy ra thật. Và cho tới ngày hôm nay, trái tim của câu chuyện nghệ thuật hiện đại từ những năm 1850 cho tới Thế chiến I là dựa trên cuốn sách đầy tính tưởng tượng này.

Một sự thật bị che giấu về quãng thời gian này, lạ thay, là thế kỉ 19 đánh dấu một thời đại bùng nổ về những sáng tạo nghệ thuật hơn hẳn cả lịch sử trước nó. Hàng ngàn họa sĩ được đào tạo bài bản đã phát triển rất nhiều kĩ thuật mới và khám phá ra vô vàn chủ đề mới, phong cách và các góc nhìn mà chưa từng tồn tại trước đó, Họ bao trùm gần như mọi khía cạnh sinh hoạt của con người. Những điều đã xảy ra trong thế kỉ 19 này là một sản phẩm từ sử bùng nổ tự do và dân chủ nơi những giá trị gốc rễ của con người được tôn trọng mạnh mẽ. Những hoạt động trên đã giúp phổ biến quan điểm ngày càng tăng rằng mỗi cá nhân có giá trị, rằng tất cả mọi người đều được sinh ra với nhiều quyền bình đẳng, đặc biệt là quyền được sống, tự do và theo đuổi hạnh phúc.

Các nghệ sĩ và nhà văn của thế kỷ 19 đã xác định, soạn thảo, bảo vệ và duy trì các giá trị nhân văn vĩ đại và những khám phá quan trọng của thời đại của Lý tính, của thế kỉ 18 đầy khai sáng. Các nhà văn thời kỳ đó, như Honoré de Balzac, Victor Hugo, Mark Twain, và Charles Dickens, đã được ca ngợi và chào đón rộng rãi, trong khi các nghệ sỹ của cùng thời kỳ, truyền đạt hầu hết các khái niệm và giá trị tương tự...lại hoàn toàn trái ngược...đã bị chế nhạo và oán trách một cách nhẫn tâm. Nhưng cộng tác cùng nhau, thế hệ này đã giúp giải phóng nô lệ, bảo vệ môi trường, ngăn chặn lao động trẻ em, tiêu trừ các điều kiện làm việc không an toàn, đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ và quyền bầu cử, phá vỡ độc quyền, bảo vệ và đảm bảo các quyền của người thiểu số. Và nhân cơ hội này từ thời đại, ít nhất là cho giới họa sĩ, những nhà chủ nghĩa hiện đại đền đáp họ bằng cách tảng lờ những tác phẩm của họ, phỉ báng các phương pháp học thuật, dối trá về ý nghĩa của chủ đề và phẫn nộ chỉ trích thành quả của họ. Tại sao? Hay vì những họa sĩ theo chủ nghĩa cổ điển sẽ không cho ra đời những tác phẩm ném sơn, toan vẽ trống rỗng hay những những can súp đóng hộp hãng Campbell’s? Vì thế họ bị gọi là “người ngoài rìa”?

Và đây chính là ý tưởng chủ đạo của những người chủ nghĩa hiện đại. Những họa sĩ thế kỷ 19 này, những người mà chúng ta ngưỡng mộ, không được coi là “người có liên quan” trong giới nghệ thuật. (Và nếu họ không được coi là có liên quan, chắc chắn rằng những người chủ nghĩa hiện đại kia còn thua kém về mặt liên đới về mọi mặt.) Chỉ có những tác phẩm và kĩ thuật mà lột bỏ được tất cả những định nghĩa trước đây cùng những thang giá trị của nghệ thuật mới được coi là “người có liên quan”. Chỉ có những họa sĩ hiện đại đó, những kẻ dẫn đường tới chủ nghĩa trừu tượng biểu hiện mới xứng đáng để gọi là “người có liên quan”. Chẳng có điều gì lại xa rời hiện chân lý đến nhường ấy! Trong sự soi sáng mà tôi vừa giải thích, mục đích của nghệ thuật là để giao tiếp. Nghệ thuật sẽ thành tựu nếu như nó khám phá những khía cạnh sâu sắc nhất nơi trải nghiệm con người, và hoàn thiện nó với thi ca, vẻ đẹp và vẻ duyên dáng. Nếu nghệ thuật đó vụng về, lạ kì, và chỉ tự thức về nó, nghệ thuật đó sẽ hẳn thiếu sót và bất thành. Nhưng để nói rằng những họa sĩ cổ điển đều không liên quan tới thời đại của họ hay đã vượt quá tầm nghệ thuật tới hàng thế kỉ thì thật là sai lầm và không đúng đắn. Thực chất, họ chính ra đang ở đỉnh cao của hơn 500 năm phát triển của nghệ thuật ở mọi cấp bậc. Những người chủ nghĩa hiện đại là chướng ngại trên con đường chân chính của lịch sử nghệ thuật. 

 

"Chân dung tự họa dành tặng M.Sace, 1886, sơn dầu trên vải, William-Adolphe Bouguereau

(Xem tiếp Phần 2)

Dịch xong ngày 24/07/2017.

Bản dịch tiếng Việt từ bài phát biểu “Why Realism” của ông Fred Ross, nhà sáng lập và chủ tịch Art Renewal Center.

Nguồn gốc bài phát biểu: https://www.artrenewal.org/articles/Philosophy/Why_Realism/why_realism.php

©Tôi (Trịnh Nhật Vũ) giữ bản quyền bản dịch.

Khi đăng lại (toàn bộ hay trích đoạn) tôi yêu cầu độc giả dẫn nguồn và có thông báo tới tôi. Chân thành cảm ơn.